Ngày 22/10/2026, Bộ Công Thương và UBND TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII. Khu vực gồm 8 địa phương với hơn 42,7 triệu dân. 9 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của khu vực đạt 2.858.823 tỷ đồng, chiếm 48,2% cả nước. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 138,4 tỷ USD, tăng 10,9%, chiếm 31,9% cả nước.
Liên kết vùng là vấn đề được nhiều địa phương quan tâm tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII.
Quy mô xuất khẩu lớn nhưng chưa đồng đều. Riêng TP. Hồ Chí Minh chiếm 54,9% kim ngạch xuất khẩu của khu vực, Đồng Nai 19,9%, Tây Ninh 11,2%; các địa phương còn lại đều dưới 10%. Báo cáo chung của Hội nghị đánh giá các mặt hàng nông sản, thế mạnh của khu vực, "vẫn còn xuất khẩu dưới dạng thô, do đó giá trị kinh tế mang lại chưa cao".
Cần cơ chế phối hợp liên kết ngành Công Thương theo chuỗi giá trị
Ở mắt xích chế biến, Cần Thơ đưa ra một số liệu đáng chú ý. 9 tháng năm 2026, thành phố đạt sản lượng 4,32 triệu tấn gạo xát, vượt xa khả năng cung ứng từ sản lượng lúa tại chỗ (khoảng 4,06 triệu tấn lúa). Theo Sở Công Thương Cần Thơ, điều này cho thấy thành phố đã vận hành trên thực tế như một trung tâm chế biến lúa gạo của vùng, thu hút nguyên liệu từ các tỉnh lân cận.
Tham luận của TP. Cần Thơ cũng chỉ ra một số giới hạn. Sản phẩm vẫn chủ yếu là gạo xát, phi lê và tôm đông lạnh; thủy hải sản đóng hộp chỉ bằng khoảng 4% sản lượng phi lê đông lạnh. Chỉ số tồn kho ngành chế biến thực phẩm tháng 9/2026 tăng 30,8% so với cùng kỳ. Các địa phương còn phát triển chế biến cùng loại sản phẩm, cạnh tranh thu hút đầu tư. Nguyên nhân được xác định là thiếu một "hạt nhân" điều phối chuỗi ở cấp vùng, đầu tư công nghiệp chế biến chưa gắn chặt với quy hoạch vùng nguyên liệu; nguồn lực còn dàn trải theo địa giới hành chính.
Ở khâu phân phối, Sở Công Thương Vĩnh Long cho biết, 9 tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của tỉnh đạt 3.289 triệu USD, tăng 22,12%. Nhóm công nghiệp chế biến chiếm 86,98% kim ngạch xuất khẩu, nhưng khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 25,40%, phần còn lại thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉnh tổ chức kết nối trực tiếp cho 48 doanh nghiệp với hệ thống phân phối hiện đại, song mới có 20 doanh nghiệp được tiếp nhận hồ sơ đưa hàng vào hệ thống. Tham luận đánh giá: "Hội chợ có thể kéo hàng đến, nhưng chỉ chuỗi mới giữ được hàng ở lại".
Sở Công Thương Vĩnh Long chỉ ra bốn vấn đề cần giải quyết, đó là: mùa vụ, hạ tầng sau thu hoạch, tiêu chuẩn và dữ liệu. Nhà sản xuất chưa biết thị trường cần gì, vào lúc nào, với tiêu chuẩn nào; nhà phân phối chưa biết vùng nào có hàng, bao nhiêu, khi nào thu hoạch. Tỉnh đề xuất áp dụng một bộ tiêu chuẩn dùng chung cho cả thị trường nội địa và xuất khẩu, và lấy TP. Hồ Chí Minh làm đầu cầu liên kết vùng. TP. Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ lớn nhất khu vực, đồng thời là đầu mối logistics và xuất khẩu của cả vùng. Vĩnh Long sẵn sàng cùng Thành phố và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cụ thể hóa Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 – 2030 bằng các chương trình theo ngành hàng: chia sẻ thông tin thị trường, liên kết vùng nguyên liệu, tránh cạnh tranh nội bộ trên cùng một sản phẩm, gom sản lượng lớn để đáp ứng đơn hàng lớn và tổ chức logistics liên vùng.
Ở mắt xích điều phối, TP. Hồ Chí Minh đề xuất các Sở Công Thương 8 địa phương cùng nghiên cứu hình thành cơ chế phối hợp liên kết ngành Công Thương phía Nam theo chuỗi giá trị. Thành phố nhấn mạnh cơ chế này "không nhằm hình thành thêm một tầng nấc quản lý hay xác lập một địa phương làm trung tâm điều phối", và điểm xuất phát "không bắt đầu từ việc mỗi địa phương có sản phẩm gì, mà bắt đầu từ thị trường đang cần gì" và khu vực có thể tổ chức thành chuỗi cung ứng đó như thế nào. Thành phố đề xuất ưu tiên trước bốn chuỗi: lúa gạo, thủy sản, trái cây và nhóm sản phẩm công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ.
Thước đo mới cho liên kết vùng
Từ những điểm nghẽn nêu trên, các địa phương đã đề xuất giải pháp để tháo gỡ. Vĩnh Long đề nghị các địa phương chuyển từ hội chợ, sự kiện đơn lẻ sang chương trình liên kết theo nhóm ngành hàng, lấy số hợp đồng được ký, chứ không phải số gian hàng, làm thước đo kết quả. TP. Hồ Chí Minh đề xuất cụ thể hơn: số doanh nghiệp tham gia chuỗi, sản lượng được liên kết, tỷ lệ nguyên liệu đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ sản phẩm qua chế biến, số hợp đồng cung ứng dài hạn, chi phí logistics được cải thiện và giá trị xuất khẩu tăng thêm.
Đây là thay đổi về tư duy quản lý. Số hội nghị, số biên bản ghi nhớ cho biết các bên đã gặp nhau, nhưng không cho biết dòng hàng có thay đổi hay không. Khi thước đo chuyển sang hợp đồng, tỷ lệ chế biến và chi phí logistics, liên kết vùng phải được chứng minh bằng kết quả kinh tế.
Ỏ góc độ cơ quan quản lý ngành, trả lời kiến nghị của TP. Hồ Chí Minh về việc khuyến công hiện chủ yếu triển khai theo từng địa phương trong khi doanh nghiệp đã hình thành chuỗi giá trị liên tỉnh, Cục Công nghiệp cho biết Bộ Công Thương "thống nhất với định hướng tăng cường liên kết ngành, liên kết vùng" và sẽ xem xét lựa chọn các đề án có tính liên kết, gắn với vùng nguyên liệu, công nghệ, sản xuất và thị trường. Đây là một trong nhiều nội dung được Bộ Công Thương trả lời các kiến nghị của các địa phương.
Theo Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, khu vực phía Nam không thiếu nguồn lực để hình thành những chuỗi giá trị có sức cạnh tranh. Khu vực có vùng nguyên liệu, có sản xuất công nghiệp, có năng lực chế biến, có thị trường lớn, có hệ thống phân phối, logistics và năng lực xuất khẩu. Điều cần thiết hiện nay là kết nối những lợi thế đó thành một chuỗi vận hành ổn định.
Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng hướng đi phù hợp là cùng các địa phương chuyển từ liên kết theo địa giới sang liên kết theo chuỗi giá trị; từ kết nối cung - cầu ngắn hạn sang xây dựng quan hệ cung ứng ổn định; từ chia sẻ thông tin chung sang chia sẻ thông tin phục vụ trực tiếp cho quyết định của doanh nghiệp. Trong cơ chế đó, mỗi địa phương phát huy lợi thế của mình, doanh nghiệp giữ vai trò chủ thể, còn các cơ quan quản lý cùng tạo điều kiện để các mắt xích được kết nối và vận hành hiệu quả hơn.
Liên kết vùng chỉ có thể tạo ra kết quả nếu được cụ thể hóa thành những chuỗi có doanh nghiệp tham gia và có thị trường đầu ra. Vì vậy, thay vì triển khai dàn trải, các địa phương có thể cùng lựa chọn một số chuỗi ngành hàng có lợi thế rõ và có khả năng mở rộng thị trường để thực hiện trước.