Muốn khai thác ‘mỏ năng lượng’ trên biển phải gỡ nút thắt thể chế

Điện gió ngoài khơi được đánh giá là lĩnh vực giàu tiềm năng nhất của năng lượng biển Việt Nam, nhưng thể chế và quy hoạch không gian biển vẫn là rào cản lớn.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

Điện gió biển là hướng đi triển vọng nhất của năng lượng biển Việt Nam

- Ông đánh giá như thế nào về vai trò của năng lượng biển trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam?

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Năng lượng biển giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển của Việt Nam. Điều này đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển tới 512 GW điện gió ngoài khơi. Đây là nguồn lực quan trọng để hình thành các ngành kinh tế mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng khu vực. Ảnh minh họa

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển tới 512 GW điện gió ngoài khơi. Đây là nguồn lực quan trọng để hình thành các ngành kinh tế mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng khu vực. Ảnh minh họa

Nghị quyết đã xác định năng lượng tái tạo biển là một trong những ngành kinh tế biển mới, bao gồm năng lượng gió, sóng, thủy triều và điện mặt trời. Trong đó, nổi bật nhất hiện nay là năng lượng gió biển và điện mặt trời trên biển.

Tôi thường sử dụng khái niệm “năng lượng gió biển” thay vì “điện gió ngoài khơi”, bởi nguồn tài nguyên gió biển không chỉ được khai thác ở vùng biển xa mà còn được tận dụng tại nhiều khu vực ven biển và trên đất liền. Cách tiếp cận này phản ánh đầy đủ hơn bản chất của nguồn năng lượng.

Trong định hướng phát triển kinh tế biển xanh, Đảng và Nhà nước đã xác định năng lượng biển là một trong những lĩnh vực động lực. Nhiều cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức đã được điều chỉnh nhằm tạo nền tảng cho ngành phát triển. Đồng thời, việc xây dựng các tổ chức, doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực để làm chủ công nghệ, nguồn lực và định hướng phát triển dài hạn cũng là yêu cầu quan trọng để nâng cao tính tự chủ chiến lược.

- Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên phát triển những loại hình năng lượng biển nào trong thời gian tới?

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Tôi cho rằng Việt Nam đang đi đúng hướng khi xác định năng lượng biển là một trong những giải pháp quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hạnh

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Năng lượng biển là nguồn năng lượng sạch, có khả năng khai thác lâu dài và sở hữu trữ lượng rất lớn. Trong bối cảnh thế giới đang giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, vai trò của các nguồn năng lượng tái tạo từ biển ngày càng trở nên quan trọng.

Đối với các loại hình năng lượng biển, năng lượng sóng và thủy triều có tiềm năng nhất định nhưng vẫn đối mặt nhiều thách thức về công nghệ và chi phí đầu tư. Trong khi đó, điện gió ngoài khơi đang là xu thế phát triển mạnh trên thế giới, công nghệ ngày càng hoàn thiện và khả năng thương mại hóa đã được chứng minh. Vì vậy, trong giai đoạn tới, Việt Nam nên ưu tiên phát triển năng lượng gió biển. Đối với điện mặt trời trên biển hoặc khu vực ven biển, trước mắt nên tập trung tại các đảo tiền tiêu, đảo xa bờ và những khu vực còn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn điện ổn định.

Về dài hạn, nếu xét trên phương diện phát triển nguồn năng lượng quy mô lớn, có khả năng đóng góp đáng kể cho hệ thống điện quốc gia, điện gió biển vẫn là lĩnh vực triển vọng nhất. Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất lớn, đặc biệt tại khu vực ven biển miền Trung và miền Nam. Quá trình phát triển có thể triển khai theo lộ trình từ gần bờ ra xa bờ, từ các trang trại điện gió trên đất liền ở các tỉnh Ninh Thuận cũ (nay là tỉnh Khánh Hòa) và Bình Thuận cũ (nay là tỉnh Lâm Đồng) đến các vùng bãi triều, vùng nước nông như tỉnh Bạc Liêu cũ (nay là tỉnh Cà Mau), sau đó mở rộng dần ra các khu vực biển sâu khi điều kiện công nghệ và hạ tầng cho phép.

Hiện nay, công nghệ điện gió ngoài khơi trên thế giới đã có bước tiến đáng kể, đặc biệt là các giải pháp nền móng và thiết bị phục vụ lắp đặt tại vùng biển sâu. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam từng bước khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên gió biển trong tương lai.

Gỡ điểm nghẽn thể chế để khai mở tiềm năng năng lượng biển

- Theo ông, Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì để phát triển năng lượng gió biển quy mô lớn?

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Phát triển điện gió ngoài khơi là xu hướng tất yếu, nhưng cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hướng tới khai thác biển xa, biển sâu. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế quản lý theo hướng thông thoáng, tạo động lực thu hút đầu tư nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về an ninh năng lượng, chuyển giao công nghệ và làm chủ công nghệ trong nước.

Bên cạnh đó, việc phát triển một ngành kinh tế mới có quy mô lớn đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ từ quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, cơ chế chính sách đến nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là bài học thành công mà Việt Nam đã tích lũy trong quá trình xây dựng ngành dầu khí.

Ngay từ giai đoạn đầu, ngành dầu khí đã được chuẩn bị bài bản về đào tạo nhân lực, tiếp nhận công nghệ và hợp tác quốc tế. Nhiều thế hệ chuyên gia được đào tạo ở nước ngoài đã trở thành lực lượng nòng cốt, góp phần xây dựng ngành công nghiệp quan trọng của đất nước. Những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị đối với quá trình phát triển các ngành năng lượng mới, trong đó có năng lượng gió biển.

Tôi cho rằng Việt Nam không bắt đầu từ con số không. Chúng ta đã có nền tảng kinh nghiệm, có đội ngũ nhân lực và có cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu phát triển năng lượng biển. Tuy nhiên, cần xây dựng lộ trình cụ thể cho từng giai đoạn 5 năm, xác định rõ khu vực phát triển, quy mô đầu tư, nguồn lực huy động cũng như các yêu cầu về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo để bảo đảm phát triển bền vững, lâu dài.

- Đâu là những điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở quá trình phát triển năng lượng biển hiện nay, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở quá trình hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách. Vấn đề không phải là có mở cửa hay không, mà là mở ở mức độ nào và bằng cách nào. Mức độ thông thoáng của chính sách sẽ quyết định khả năng thu hút nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực năng lượng biển. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chính sách, cần cân nhắc đồng thời các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường và yêu cầu về công nghệ.

Biển là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu. Một vùng biển không chỉ dành cho năng lượng mà còn liên quan đến thủy sản, du lịch, giao thông hàng hải, bảo tồn thiên nhiên và nhiều hoạt động kinh tế khác. Vì vậy, nếu chính sách chỉ ưu tiên cho một ngành mà thiếu góc nhìn tổng thể thì có thể ảnh hưởng đến dư địa phát triển của các ngành còn lại.

Một thách thức khác là Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong quản lý biển theo phương thức tổng hợp và dựa trên quy hoạch không gian biển. Dù cách tiếp cận này đã được đề cập nhiều năm qua, việc triển khai thực tế vẫn còn không ít lúng túng. Tư duy quản lý theo từng ngành riêng lẻ vẫn tồn tại, trong khi kinh tế biển đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành và tổng thể.

Đối với năng lượng biển cũng vậy. Nếu chỉ xem đây là câu chuyện của riêng ngành năng lượng thì sẽ khó phát huy hết tiềm năng. Việc phát triển cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với các ngành kinh tế biển khác và trong tổng thể hệ sinh thái biển. Đây cũng là cách tiếp cận mà nhiều quốc gia đang áp dụng nhằm bảo đảm mục tiêu vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ tài nguyên và môi trường biển một cách bền vững.

Xin cảm ơn ông!

Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển và sở hữu tiềm năng rất lớn về điện gió ngoài khơi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển tới 512 GW điện gió ngoài khơi. Đây là nguồn lực quan trọng để hình thành các ngành kinh tế mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng khu vực.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm