Kinh tế biển, carbon và năng lượng xanh: Ba động lực phát triển mới

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, kinh tế biển, carbon và năng lượng xanh được kỳ vọng trở thành ba động lực mới cho tăng trưởng của Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

Thị trường carbon tạo động lực mới cho doanh nghiệp giảm phát thải

- Dư địa giảm phát thải của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn lớn hay không? Theo ông, doanh nghiệp đang đứng trước những cơ hội và thách thức nào trong quá trình chuyển đổi xanh?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Dư địa giảm phát thải của doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn còn rất lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp và sử dụng tài nguyên. Thời gian qua, quá trình chuyển đổi xanh đã bắt đầu diễn ra rõ nét hơn dưới tác động của các cam kết quốc tế về khí hậu, yêu cầu từ các thị trường xuất khẩu cũng như các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) ngày càng khắt khe. Tuy nhiên, mức độ chuyển đổi giữa các nhóm doanh nghiệp vẫn còn chênh lệch đáng kể, nhất là giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Nguyễn Hạnh

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Nguyễn Hạnh

Trong bối cảnh đó, việc hình thành và vận hành thị trường carbon cùng cơ chế tín chỉ carbon sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp. Đây không chỉ là công cụ tài chính hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh mà còn tạo động lực để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng phát thải thấp trên toàn cầu. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là khả năng tiếp cận nguồn lực cho chuyển đổi xanh. Nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc huy động tài chính xanh, tiếp cận công nghệ xanh cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến phát thải thấp.

Trong thời gian tới, hệ sinh thái chính sách sẽ ngày càng gắn chặt với mô hình kinh tế carbon thấp, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh. Khi các cơ chế về thị trường carbon, tín chỉ carbon và hệ thống đo đếm, kiểm kê phát thải được hoàn thiện, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm nhiều cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị xanh toàn cầu, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế xanh đang trở thành xu hướng phát triển chủ đạo của thế giới.

- Để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu giảm phát thải, công tác kiểm kê khí nhà kính và xây dựng kế hoạch giảm phát thải đang được triển khai như thế nào ở địa phương, thưa ông? 

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Trước đây, công tác kiểm kê khí nhà kính và xây dựng kế hoạch giảm phát thải đã được giao cho các địa phương triển khai. Khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các nhiệm vụ liên quan đến kiểm kê khí nhà kính, xây dựng kế hoạch giảm phát thải và giám sát các cơ sở phát thải trên địa bàn tiếp tục được phân cấp mạnh hơn cho địa phương tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, trong bối cảnh doanh nghiệp tham gia thị trường carbon và thực hiện các nghĩa vụ giảm phát thải theo cơ chế tuân thủ, sự phối hợp giữa địa phương và cơ quan quản lý trung ương sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện hệ thống đăng ký tín chỉ carbon. Trong khi đó, Bộ Tài chính cùng các cơ quan liên quan đang xây dựng cơ chế và hệ thống giao dịch để từng bước vận hành thị trường carbon trong nước. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để thúc đẩy quá trình giảm phát thải theo cơ chế thị trường.

- Khi thị trường carbon đi vào vận hành, doanh nghiệp sẽ có những lựa chọn nào để thực hiện các cam kết giảm phát thải?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Thị trường carbon sẽ mở ra nhiều lựa chọn chiến lược cho doanh nghiệp. Thứ nhất, doanh nghiệp có thể đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi sang sản xuất sạch hơn, giảm phát thải và tạo ra tín chỉ carbon để giao dịch trên thị trường. Thứ hai, doanh nghiệp có thể tham gia đấu giá hạn ngạch phát thải theo quy định. Thứ ba, doanh nghiệp có thể mua bán tín chỉ carbon trên thị trường giao dịch tập trung với các doanh nghiệp khác. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tham gia các giao dịch song phương theo cơ chế thỏa thuận trực tiếp.

Điều quan trọng là thị trường carbon sẽ tạo ra động lực kinh tế cho hoạt động giảm phát thải. Khi lượng phát thải được quy đổi thành giá trị tài chính, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để đầu tư vào công nghệ sạch, chuyển đổi năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Về lâu dài, đây sẽ là công cụ quan trọng giúp Việt Nam thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.

Điện gió ngoài khơi và hydrogen xanh mở rộng không gian tăng trưởng

- Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy tăng trưởng xanh và xây dựng thị trường carbon, hợp tác quốc tế có vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ thực hiện các cam kết khí hậu cũng như phát triển các ngành kinh tế xanh mới?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Hợp tác quốc tế có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế biển và năng lượng tái tạo. Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển và sở hữu tiềm năng rất lớn về điện gió ngoài khơi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển tới 512 GW điện gió ngoài khơi. Đây là nguồn lực chiến lược để hình thành các ngành kinh tế mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng khu vực.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển khoảng 512 GW điện gió ngoài khơi, thuộc nhóm thị trường tiềm năng hàng đầu châu Á. Ảnh minh họa

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển khoảng 512 GW điện gió ngoài khơi, thuộc nhóm thị trường tiềm năng hàng đầu châu Á. Ảnh minh họa

Trong tương lai, Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia các sáng kiến kết nối lưới điện khu vực ASEAN, thậm chí kết nối với các mạng lưới năng lượng xuyên khu vực đang được nhiều quốc gia thúc đẩy. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là thành viên của nhiều công ước quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Vì vậy, phát triển kinh tế biển cần được triển khai song song với bảo tồn hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Đây cũng là xu hướng phát triển chung của thế giới hiện nay.

- Bên cạnh chuyển đổi xanh trong sản xuất, Việt Nam còn sở hữu lợi thế rất lớn về biển. Theo ông, dư địa phát triển từ kinh tế biển, năng lượng tái tạo và các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh hiện nay ra sao?

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ: Việt Nam sở hữu tiềm năng rất lớn về kinh tế biển. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nước ta có khả năng phát triển khoảng 512 GW điện gió ngoài khơi. Đây không chỉ là nguồn năng lượng sạch mà còn là nền tảng để hình thành các hệ sinh thái kinh tế mới.

Việc phát triển điện gió ngoài khơi sẽ tạo động lực cho nhiều ngành kinh tế liên quan như sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, lưu trữ năng lượng, công nghiệp hỗ trợ và giao thông xanh. Nguồn điện tái tạo dồi dào cũng góp phần thúc đẩy quá trình điện hóa trong sản xuất, từ phương tiện vận tải đến máy móc nông nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Không chỉ dừng lại ở khai thác tài nguyên hay phát triển du lịch, kinh tế biển còn mở ra không gian tăng trưởng mới thông qua việc hình thành chuỗi giá trị năng lượng tái tạo từ sản xuất, truyền tải đến lưu trữ điện. Đặc biệt, hydrogen xanh được xem là một hướng đi giàu tiềm năng khi có thể trở thành giải pháp lưu trữ năng lượng tái tạo và cung cấp nhiên liệu sạch cho giao thông vận tải, công nghiệp cùng nhiều lĩnh vực kinh tế khác trong tương lai.

Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã kết hợp hiệu quả giữa phát triển năng lượng tái tạo, bảo tồn thiên nhiên và du lịch sinh thái. Việt Nam hoàn toàn có thể nghiên cứu, áp dụng các mô hình này để vừa khai thác hiệu quả tiềm năng biển, vừa bảo đảm các mục tiêu phát triển bền vững. Có thể nói, nếu tận dụng tốt các cơ hội từ năng lượng tái tạo, công nghệ xanh và hợp tác quốc tế, kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Xin cảm ơn ông!

Hình thành hệ sinh thái kinh tế xanh dựa trên năng lượng tái tạo, thị trường carbon và kinh tế biển sẽ tạo động lực tăng trưởng mới gắn với phát triển bền vững.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm