Để kinh tế biển xanh không chỉ dừng ở khẩu hiệu

Để kinh tế biển xanh trở thành động lực tăng trưởng mới, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần tháo gỡ những nút thắt về quản trị và thực thi.

Điểm nghẽn không nằm ở chính sách

Biển đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Không chỉ là không gian phát triển kinh tế, biển còn gắn với an ninh năng lượng, logistics, du lịch, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, quốc phòng và đối ngoại.

Ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Ảnh: Tùng Đinh

Ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Ảnh: Tùng Đinh

Tại Hội thảo quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” diễn ra ngày 5/6, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nhận định, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không đơn thuần là điều chỉnh một đạo luật chuyên ngành mà thực chất là hoàn thiện một công cụ quản trị cho tương lai của kinh tế biển Việt Nam. Phát triển kinh tế biển xanh không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc nếu Việt Nam muốn duy trì tăng trưởng dài hạn.

Một trong những điểm đáng chú ý trong quá trình sửa đổi luật là yêu cầu thể chế hóa mạnh mẽ hơn tư duy phát triển dựa trên giới hạn sinh thái. Theo ông Tạ Đình Thi, nhiều năm qua, khái niệm kinh tế biển xanh đã xuất hiện trong hầu hết các chiến lược, quy hoạch và nghị quyết lớn. Tuy nhiên, khoảng cách từ chủ trương đến thực thi vẫn còn khá xa.

Trên thực tế, không ít hoạt động khai thác biển vẫn được quản lý theo từng ngành riêng lẻ. Mỗi lĩnh vực từ cảng biển, du lịch, thủy sản, dầu khí đến năng lượng tái tạo đều có cơ quan quản lý, quy hoạch và mục tiêu phát triển riêng. Điều này khiến các xung đột trong sử dụng không gian biển ngày càng xuất hiện rõ nét.

Một khu vực biển có thể đồng thời là nơi phát triển điện gió ngoài khơi, khai thác thủy sản, bảo tồn sinh thái, phát triển du lịch và phục vụ quốc phòng, an ninh. Nếu thiếu cơ chế điều phối tổng thể, nguy cơ chồng lấn lợi ích là khó tránh khỏi. Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng dự thảo luật cần đi xa hơn việc quản lý tài nguyên đơn thuần để chuyển sang quản trị hệ sinh thái biển. Nói cách khác, biển cần được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất thay vì tập hợp các khu vực khai thác riêng lẻ.

Theo ông Tạ Đình Thi, tư duy này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thực hiện các cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Một thực tế được chỉ ra là Việt Nam không thiếu chủ trương về phát triển bền vững kinh tế biển. Từ Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến các quy hoạch không gian biển, quy hoạch tổng thể quốc gia hay các cam kết quốc tế về môi trường biển, khung định hướng cơ bản đã được hình thành.

Vấn đề nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Nhiều năm qua, cơ chế điều phối liên ngành trong quản lý biển vẫn được xem là điểm nghẽn lớn. Các cơ quan quản lý đều có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng chưa có một cơ chế đủ mạnh để điều phối hiệu quả các hoạt động trên cùng một không gian biển. Hệ quả là nhiều quyết sách liên quan đến biển vẫn được xử lý theo tư duy ngành dọc, trong khi các vấn đề thực tế lại mang tính liên ngành và liên vùng rất cao.

Nếu dự thảo luật lần này không xử lý được bài toán phối hợp và điều phối thì nguy cơ “quy hoạch một đằng, triển khai một nẻo” vẫn sẽ tiếp diễn. Đây cũng là lý do các chuyên gia khuyên nghị cơ quan xây dựng chính sách nghiên cứu các cơ chế điều phối rõ ràng hơn, thậm chí xem xét mô hình đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối các hoạt động phát triển kinh tế biển.

Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Ảnh minh họa

Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Ảnh minh họa

Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu thay đổi cách tiếp cận trong bảo vệ môi trường biển. Theo ông Tạ Đình Thi, trong nhiều năm, trách nhiệm bảo vệ môi trường thường được nhìn nhận chủ yếu từ góc độ quản lý nhà nước. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy các mục tiêu môi trường khó có thể đạt được nếu thiếu sự tham gia chủ động của doanh nghiệp. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh các ngành kinh tế biển đang bước vào giai đoạn chuyển đổi xanh.

Từ vận tải biển, cảng biển, đóng tàu, thủy sản đến năng lượng tái tạo ngoài khơi, mọi lĩnh vực đều cần nguồn lực đầu tư rất lớn cho công nghệ sạch, giảm phát thải và kinh tế tuần hoàn. Do đó, thay vì chỉ tập trung vào các quy định kiểm soát, luật cần tạo ra cơ chế khuyến khích để doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích kinh tế từ việc bảo vệ môi trường.

Các công cụ mới như trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, tín chỉ carbon, kinh tế tuần hoàn hay cơ chế tài chính xanh có thể là những hướng đi cần được nghiên cứu áp dụng mạnh mẽ hơn đối với các ngành kinh tế biển. Khi môi trường trở thành một phần của chiến lược kinh doanh, thay vì chỉ là chi phí tuân thủ, quá trình chuyển đổi xanh mới có thể diễn ra bền vững.

Cần một đạo luật mở đường cho giai đoạn phát triển mới

Thời gian từ nay đến khi Quốc hội xem xét dự thảo luật không còn nhiều. Trong khi đó, khối lượng công việc đặt ra là rất lớn bởi đây là đạo luật liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp quản lý và nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Điều quan trọng nhất lúc này không chỉ là sửa đổi các quy định hiện hành mà là xác lập một tư duy quản trị mới đối với tài nguyên và môi trường biển.

Nếu làm được điều đó, luật sửa đổi sẽ không chỉ góp phần bảo vệ tài nguyên biển mà còn tạo nền tảng thể chế cho các ngành kinh tế biển phát triển theo hướng xanh, hiện đại và có khả năng cạnh tranh cao hơn trong giai đoạn tới. Ngược lại, nếu các điểm nghẽn về điều phối liên ngành, phân cấp, cơ chế tài chính và huy động nguồn lực xã hội chưa được tháo gỡ, mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh rất dễ tiếp tục dừng lại ở các chiến lược và nghị quyết.

Với một quốc gia có hơn 3.260 km bờ biển và khát vọng trở thành quốc gia mạnh về biển, yêu cầu đặt ra không chỉ là khai thác tốt hơn tài nguyên biển mà còn phải quản trị biển tốt hơn. Đó mới là nền tảng căn bản cho tăng trưởng bền vững trong nhiều thập niên tới.

Ngày Đại dương thế giới (8/6/2026) được Liên hợp quốc lựa chọn chủ đề “Các khu bảo tồn biển vững mạnh cho hành tinh xanh của chúng ta”. Hưởng ứng sự kiện này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định chủ đề Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam 2026 (1-8/6) là “Thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh bền vững: Từ thể chế đến hành động”.

Chủ đề thể hiện quyết tâm đổi mới tư duy quản lý biển theo hướng hiện đại, đồng bộ và bền vững; đưa kinh tế biển xanh trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trên cơ sở hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái biển. Đây cũng là một trong những giải pháp góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm