Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Hoàng Mạnh Cầm - Chánh Văn phòng HĐQT Tập đoàn Dệt May Việt Nam đã chia sẻ những nhận định về triển vọng thị trường, nhất là những thị trường xuất khẩu trọng điểm và các giải pháp để ngành dệt may tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong thời gian tới.
Thị trường chịu tác động kép
- Thưa ông, bức tranh thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026 dự báo diễn biến theo chiều hướng như thế nào?
Ông Hoàng Mạnh Cầm: Có một số yếu tố lớn tác động tới thị trường dệt may toàn cầu cũng như hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong nửa cuối năm 2026.
Thứ nhất, những biến động địa chính trị, nổi bật là căng thẳng giữa Mỹ và Iran. Ngay sau khi xung đột bùng phát, giá dầu thế giới tăng rất mạnh, từ mức khoảng 64 - 65 USD/thùng lên có thời điểm chạm mốc 120 USD/thùng, hiện vẫn dao động ở mức cao. Giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí vận tải leo thang. Chỉ số vận tải biển hiện cao hơn khoảng 30 - 40% so với thời điểm trước khi xảy ra xung đột. Điều này tạo áp lực đáng kể lên các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu.
Ông Hoàng Mạnh Cầm - Chánh Văn phòng HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Ảnh: Trường Giang
Một tác động khác là giá nhiên liệu tăng đã thấm vào các nền kinh tế lớn bao gồm cả Mỹ, dữ liệu vừa công bố CPI của Mỹ chạm mức 4,2% cao nhất trong vòng 3 năm qua, từ năm 2023 đến nay. EU lạm phát đã vượt xa mức mục tiêu 2%, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã quyết định nâng 0,25% lãi suất điều hành lên mức 2,25% cũng sau gần 3 năm. Các nhà kinh tế dự báo Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tăng lãi suất để xử lý vấn đề lạm phát trong nước.
Như vậy rất nhiều nền kinh tế lớn sẽ tăng lãi suất và chúng ta đã trải qua bài học năm 2022 lãi suất tăng cao sẽ bóp nghẹt khả năng chi tiêu của các nền kinh tế lớn làm cho nhu cầu tiêu dùng dệt may giảm sút.
Đa dạng hóa thị trường để mở rộng không gian tăng trưởng
- Với bức tranh như đã phân tích, theo ông, đâu là những thị trường tiềm năng mà ngành dệt may Việt Nam cần chú trọng trong thời gian tới?
Ông Hoàng Mạnh Cầm: Mỹ vẫn là thị trường mục tiêu rất quan trọng đối với ngành dệt may Việt Nam. Đây là thị trường có quy mô tiêu dùng hàng đầu thế giới, tốc độ thay đổi xu hướng thời trang nhanh và biên lợi nhuận tương đối tốt.
Điều cần làm là xây dựng cơ cấu thị trường hợp lý hơn. Nếu một doanh nghiệp phụ thuộc tới 90% doanh thu xuất khẩu vào Mỹ thì rõ ràng mức độ rủi ro là rất lớn. Nhưng nếu doanh nghiệp duy trì tỷ trọng khoảng 50 - 70%, đồng thời phát triển thêm các thị trường khác thì sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước các biến động. Theo tôi, đây là hướng tiếp cận thực tế và phù hợp với điều kiện hiện nay của ngành dệt may.
EU cũng là một trong những khu vực nhập khẩu hấp dẫn nhất thế giới. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường có yêu cầu rất cao về phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và các tiêu chuẩn bền vững. Do đó, để mở rộng thị phần tại EU, doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư nhiều hơn vào công nghệ, quản trị môi trường và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh EU, Hàn Quốc là thị trường khá tiềm năng nhờ đặc điểm tiêu dùng thời trang thay đổi nhanh, vòng đời sản phẩm ngắn, liên tục xuất hiện các xu hướng mới và phù hợp với năng lực sản xuất linh hoạt của doanh nghiệp Việt Nam.
Nhật Bản cũng là thị trường rất đáng quan tâm. Dù không có tốc độ tăng trưởng đột biến, nhưng sức mua tương đối ổn định và ít biến động hơn so với nhiều khu vực khác.
Ngoài ra, chúng tôi đánh giá cao tiềm năng của khu vực Trung Đông và thị trường Halal. Đây là khu vực đang nổi lên với quy mô dân số lớn và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng.
ASEAN cũng là một thị trường quan trọng mà ngành dệt may không thể bỏ qua. Lợi thế về khoảng cách địa lý, các hiệp định thương mại khu vực và mối liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.
Bên cạnh đó, thị trường nội địa với hơn 100 triệu dân vẫn là dư địa rất lớn cho các doanh nghiệp khai thác trong thời gian tới.
- Theo ông, đâu là giải pháp cốt lõi để ngành dệt may tránh rủi ro từ bất ổn thị trường và ổn định tăng trưởng trong thời gian tới?
Ông Hoàng Mạnh Cầm: Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng nhất khu vực. Chúng ta đã có 17 FTA đang thực thi và tiếp tục mở rộng thêm trong thời gian tới. Đây là lợi thế rất lớn so với nhiều quốc gia cạnh tranh trực tiếp trong lĩnh vực dệt may.
Dự báo nửa cuối năm 2026 có nhiều biến động trên thị trường, ảnh hưởng tới các nhà sản xuất dệt may như Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Nam
Tuy nhiên, để tận dụng được các FTA, chúng ta cần giải quyết bài toán đã tồn tại nhiều năm, đó là năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn nằm ở nguồn cung nguyên liệu, đặc biệt là lĩnh vực dệt - nhuộm. Nếu Việt Nam nâng cao được năng lực sản xuất vải trong nước, đáp ứng tốt các yêu cầu về xuất xứ thì khả năng tận dụng ưu đãi thuế quan từ các FTA sẽ được cải thiện đáng kể. Khi đó, việc mở rộng thị trường sẽ diễn ra thuận lợi hơn bởi nhiều rào cản hiện nay thực chất bắt nguồn từ vấn đề xuất xứ nguyên liệu.
Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, các hoạt động xúc tiến thương mại do Bộ Công Thương triển khai thời gian qua cũng đóng vai trò rất quan trọng. Những chương trình kết nối giao thương, hội chợ trong và ngoài nước đã giúp doanh nghiệp tiếp cận thêm khách hàng, mở rộng thị trường và duy trì đơn hàng trong bối cảnh khó khăn.
Chúng ta cần xác định rõ, thị trường thế giới sẽ còn nhiều bất định, việc giữ vững thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng không gian xuất khẩu sang các thị trường mới sẽ là chìa khóa để dệt may Việt Nam duy trì đà tăng trưởng và nâng cao sức chống chịu trước những biến động toàn cầu.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nhiều doanh nghiệp phản ánh, đơn hàng, nhất là đơn hàng cho quý IV/2026 rất khó khăn, trong khi đó các đơn hàng đã ký đơn giá thấp, thời gian giao hàng ngắn.