Thuế quan Mỹ, giá dầu Trung Đông, hàng rào xanh dồn tới cùng lúc. Lời giải cho hai con số không nằm ở phép màu, mà ở một chương trình nội lực bền bỉ, đúng theo định hướng vừa được Bộ Chính trị xác lập tại Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026: thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, nâng tỷ lệ nội địa hóa và kéo doanh nghiệp Việt vào sâu trong chuỗi giá trị.
Hai kỳ trước đã nhận diện rõ vấn đề. Một bức tranh xuất khẩu chạy rất nhanh ở bề mặt nhưng còn mỏng ở chiều sâu: 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 215,7 tỷ USD, tăng 19,5%, mà cán cân lại nghiêng về nhập siêu khoảng 13,8 tỷ USD vì nhập khẩu tăng tới 30,8%, nhanh hơn cả xuất khẩu.
Đằng sau con số ấy là ba vấn đề cùng một gốc: nhập siêu trở lại, khối ngoại áp đảo với 79,5% kim ngạch trong khi doanh nghiệp nội chỉ nhích 2,9%, và một hàm lượng giá trị nội địa đang còn thấp. Kỳ này bàn về lời giải và hướng đi. Bởi bức tranh đã rõ, điều thị trường và doanh nghiệp cần bây giờ là một lộ trình để con số hai chữ số không chỉ đến trong một năm, mà trụ được qua nhiều năm. Lộ trình ấy giờ đã có một điểm tựa quan trọng và mới nhất: Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, văn bản đặt nền cho việc chuyển dòng vốn ngoại từ lượng sang chất và buộc nó gắn chặt với nội lực trong nước. Tinh thần ấy sẽ trở lại đậm hơn ở phần giải pháp phía sau.
Nhưng cũng phải nhìn nhận những vấn đề khách quan đang tác động mạnh đến nền kinh tế. Năm 2026 mở ra giữa một vùng nhiễu động hiếm thấy của thương mại toàn cầu, nơi hai "cơn gió ngược" thổi tới gần như cùng lúc.
Cơn gió đầu tiên đến từ địa chính trị. Từ tháng 2 năm 2026, xung đột giữa Hoa Kỳ, Israel và Iran bùng phát trở lại, gây ra điều mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đánh giá là sự gián đoạn nguồn cung xăng dầu lớn nhất trong lịch sử. Tác động ập vào trong nước gần như tức thì: giá xăng dầu có thời điểm tăng từ 44 - 73% so với trước xung đột, tạo áp lực kép lên lạm phát, chi phí sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân, đồng thời đặt an ninh năng lượng và ổn định vĩ mô vào thế cần theo dõi sát.
Rồi một tin tốt đến. Ngày 14 tháng 6 năm 2026, Hoa Kỳ và Iran thông báo đạt thỏa thuận chấm dứt xung đột và khôi phục lưu thông qua eo biển Hormuz, tuyến huyết mạch của dầu mỏ thế giới. Điểm nóng đã hạ nhiệt. Nhưng nhẹ nhõm không có nghĩa là an toàn. Các rủi ro địa chính trị ở khu vực chưa hoàn toàn chấm dứt, thị trường năng lượng và vận tải cần thêm thời gian để ổn định, giá dầu và chi phí logistics vẫn neo cao, tiếp tục đè lên giá thành sản xuất, vận tải và xuất khẩu. Một hành lang hàng hải vừa mở lại không gỡ ngay được mức cước và phí bảo hiểm đã trót dâng lên.
Hệ lụy chạy theo hai hướng. Hướng thứ nhất là giá dầu: chừng nào giá còn cao, cán cân thương mại nhóm năng lượng còn khó phục hồi, bởi giá năng lượng đắt vừa đẩy chi phí nhập khẩu xăng dầu và nguyên liệu lên, vừa lan vào giá thành của hầu hết các ngành. Với một nền kinh tế còn nhập nhiều năng lượng và nguyên liệu, đây là một kênh truyền dẫn rủi ro thẳng vào nhập khẩu và nhập siêu.
Hướng thứ hai là trở ngại với chính dòng hàng đi Trung Đông, khi bất ổn an ninh và gián đoạn logistics khiến nhiều mặt hàng vốn chưa khởi sắc lại càng khó bứt lên. Đây là nhóm rủi ro gần như nằm ngoài tầm với của Việt Nam, nên cách ứng phó chủ yếu là phòng ngừa và thích ứng. Cũng cần ghi nhận, với vai trò nòng cốt trong Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã chủ động triển khai các giải pháp kịp thời, phối hợp chặt với các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp để cơ bản bảo đảm nguồn cung xăng dầu và điện cho nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026.
Nếu thuế quan và địa chính trị là những cú sốc có thể đến rồi đi, thì hàng rào xanh là một sự dịch chuyển nền tảng, dài hạn và một chiều, của luật chơi thương mại tại các thị trường phát triển. Liên minh châu Âu đang chuyển từ rào cản thuế quan sang rào cản kỹ thuật và môi trường, buộc hàng nhập khẩu phải chứng minh dấu chân carbon, nguồn gốc và tính bền vững. Với một nền kinh tế xuất khẩu dựa nhiều vào nông sản và thâm dụng lao động như Việt Nam, đây vừa là thách thức sống còn với doanh nghiệp yếu, vừa là cơ hội nâng hạng với doanh nghiệp biết chuẩn bị sớm.
Trụ cột thứ nhất là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), áp giá carbon lên hàng nhập khẩu, buộc doanh nghiệp chứng minh dữ liệu phát thải trong sản xuất. Các ngành thâm dụng năng lượng như thép, xi măng, phân bón chịu ảnh hưởng trực tiếp: ai không đo đếm và kê khai được phát thải sẽ phải trả thêm chi phí, hoặc bị loại khỏi thị trường EU. Trụ cột thứ hai là Quy định chống phá rừng (EUDR), yêu cầu gỗ, cà phê, cao su, ca cao, đậu nành và một số mặt hàng khác phải chứng minh không gây mất rừng sau năm 2020, truy xuất tới từng lô và từng tọa độ vùng trồng.
Nhưng chính EUDR lại để lại một bài học sáng. Ngành cà phê Việt Nam được EU xếp vào nhóm rủi ro thấp, chỉ phải kiểm 1% lô hàng, biến một quy định khắt khe thành tấm vé thông hành vào thị trường EU vốn chiếm khoảng 46,7% kim ngạch cà phê. Niên vụ 2024 và 2025, cà phê lập kỷ lục xuất khẩu trên 8,4 tỷ USD, tăng 55,5% kim ngạch, một phần nhờ đáp ứng tốt yêu cầu mới. Như vậy, hàng rào xanh không nhất thiết loại bỏ doanh nghiệp Việt, mà sàng lọc giữa người chuẩn bị sớm và người đứng yên.
Rào cản kỹ thuật cũng không chỉ đến từ phương Tây. Ở thị trường Trung Quốc - thị trường lớn nhất của Việt Nam đang đặt ra hàng loạt quy định đối với hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là nông sản. Sầu riêng, mặt hàng tỷ đô phải triển khai truy xuất nguồn gốc từ ngày 1 tháng 7 năm 2026.
Dòng kim ngạch xuất nhập khẩu khoảng 930,05 tỷ USD của năm 2025 không chảy đều khắp lãnh thổ mà dồn vào vài ba điểm hội tụ. Phần lớn kim ngạch xuất khẩu quốc gia nằm ở chưa tới 10 địa phương, tập trung ở hai cực động lực. Cực thứ nhất là Đông Nam Bộ, vùng đóng góp khoảng 40% GDP và khoảng một phần ba kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước, đảm nhận hơn 60% khối lượng hàng container quốc gia. Sau khi hợp nhất TP Hồ Chí Minh với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố mới năm 2025 xuất khẩu 92,68 tỷ USD, chiếm 19,5% cả nước. Cực thứ hai trải dọc đồng bằng sông Hồng và dải trung du Bắc Bộ, xoay quanh các tổ hợp điện tử FDI; quán quân toàn quốc năm 2025 là Bắc Ninh mới với 93,27 tỷ USD, chiếm 19,6% tổng kim ngạch.
Cần đọc đúng những con số này. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, cả nước sắp xếp lại còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhiều tỉnh công nghiệp lớn được hợp nhất, nên thứ hạng tỉnh năm 2025 phản ánh quy mô địa giới sau sắp xếp nhiều hơn là sức bật nội tại trong một năm. Bắc Ninh mới đã gộp cả Bắc Giang, nên bước nhảy từ khoảng 39 lên 93,27 tỷ USD chủ yếu do sáp nhập, không phải tăng trưởng thực trên cùng phạm vi. Điều quan trọng hơn nằm ở chất: đặc điểm chung của Bắc Ninh và Thái Nguyên cũng chính là điểm nghẽn cốt lõi của cả nền xuất khẩu, kim ngạch khổng lồ nhưng phụ thuộc gần như tuyệt đối vào khu vực FDI, phần giá trị thực sự ở lại nền kinh tế thì khiêm tốn.
Bổ trợ cho hai cực ấy là đồng bằng sông Cửu Long, vựa nông thủy sản của cả nước nhưng tỷ trọng kim ngạch còn dưới 7%. Vùng đóng góp 56% sản lượng lúa, 95% lượng gạo xuất khẩu và khoảng 60% giá trị thủy sản xuất khẩu quốc gia, nhưng nông sản dồi dào lại đi liền giá trị gia tăng còn thấp, chế biến sâu chưa mạnh, và logistics là nút thắt lớn nhất. Đây chính là biểu hiện không gian của nghịch lý mà cả tuyến bài theo đuổi: độ tập trung vừa là sức mạnh tụ hội, vừa là điều cần lưu ý về mức độ lệ thuộc.
Nếu các cực xuất khẩu là trái tim thì logistics là mạch máu, và mạch máu này đang quá tải ở những đoạn xung yếu nhất. Tân Cảng - Cát Lái rộng 160 ha, công suất hơn 5 triệu TEU mỗi năm, là cảng container lớn nhất nước nhưng thường xuyên ùn tắc; cao điểm có khoảng 16.400 lượt xe tải tới cảng mỗi ngày, xe phải chờ tới 3 giờ trước cổng.
Việt Nam có cụm cảng nước sâu thuộc loại hiệu quả nhất thế giới mà chưa khai thác hết vì hậu phương kết nối yếu: cụm Cái Mép - Thị Vải năm 2024 đạt 10,8 triệu TEU, tăng 34%, lọt top 7 cảng container hiệu quả nhất toàn cầu, nhưng hàng vẫn dồn qua quốc lộ 51 quá tải. Cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu dài 53,7 km, vốn hơn 19.000 tỷ đồng, dự kiến khai thác từ năm 2026, được kỳ vọng rút thời gian từ Biên Hòa về cảng từ 2 giờ xuống còn 45 đến 60 phút. Ở phía Tây Nam, điểm nghẽn còn gay gắt hơn vì thiếu hụt nền tảng: đồng bằng sông Cửu Long gần như không có cảng biển nước sâu, buộc nông sản, thủy sản, vốn nhạy cảm với thời gian và đòi hỏi chuỗi lạnh, phải chạy ngược lên cảng Đông Nam Bộ, đội cả chi phí lẫn hao hụt. Chi phí logistics trên GDP của Việt Nam vẫn cao so với khu vực, và đó là thứ thuế ẩn đánh vào mọi lô hàng xuất khẩu.
Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đã xóa bớt những ranh giới hành chính từng cản trở chuỗi sản xuất tới cầu cảng, mở một dư địa đáng kể. Nhưng xóa ranh giới trên bản đồ mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là một cơ chế điều phối vùng thực chất, có thẩm quyền và nguồn lực thật, để quy hoạch khu công nghiệp, cảng và hạ tầng logistics theo vùng thay vì theo tỉnh, để các địa phương phân vai bổ trợ thay vì cạnh tranh giành dự án giống nhau. Liên kết vùng, vì thế, không phải khẩu hiệu hành chính mà là điều kiện không gian để tăng trưởng vừa cao hơn, vừa bền hơn.
Đến đây, vấn đề đã rõ và bối cảnh cũng đã rõ. Câu hỏi còn lại là lời giải thế nào.
Mọi phân tích đều quy về ba câu hỏi lớn mà mọi giải pháp phải trả lời trực tiếp: làm sao đưa tăng trưởng xuất khẩu lên quỹ đạo hai con số bền vững từ 10% mỗi năm từ năm 2026? Làm sao đảo chiều nhập siêu mà vẫn giữ được nhịp tăng trưởng? Làm sao nâng nội lực để giảm dần thế phụ thuộc vào một nhóm hẹp tập đoàn ngoại? Kinh nghiệm thế giới chỉ ra ba bài toán này có chung một lời giải gốc: phải biến FDI và gia công thành bệ phóng để nâng cấp doanh nghiệp nội và làm sâu công nghiệp hỗ trợ, từ đó tự thu hẹp nhập siêu từ bên trong, thay vì chạy theo kim ngạch danh nghĩa bằng cách nhập đầu vào rồi lắp ráp xuất đi.
Bộ giải pháp vì thế không phải một danh mục rời rạc mà là một kiến trúc bảy nhóm khóa vào nhau, trong đó thể chế tạo nền, nội địa hóa và nội lực doanh nghiệp là trục xương sống, còn thị trường, logistics và không gian vùng là các đòn bẩy khuếch đại.
Vấn đề gốc là khoảng vênh thể chế: khung chủ trương rất đầy đủ ở cả bốn tầng, từ Kết luận 18-KL/TW ngày 2 tháng 4 năm 2026 của Đảng, Luật Quản lý ngoại thương 05/2017/QH14 và Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội, Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030 theo Quyết định 493/QĐ-TTg, xuống tới kế hoạch ngành của Bộ Công Thương, nhưng dư địa thực thi lại nghẽn ở thủ tục, kiểm tra chuyên ngành, hoàn thuế và sự lệch pha của chính mục tiêu.
Đi cùng việc nâng tầm mục tiêu là gỡ ba nút nghẽn thủ tục đang trực tiếp bào mòn sức cạnh tranh, mà điểm tựa pháp lý đã có sẵn. Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 198/2025/QH15 đặt mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh. Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/6/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, trong nửa đầu năm 2026, Bộ Công Thương đã cắt giảm 367 trên 658 điều kiện kinh doanh, tương đương 55,7%, bãi bỏ 111 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 177 thủ tục.
Việc thứ ba, làm được ngay, là đặt thời hạn cứng cho hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu: tình trạng chậm hoàn thuế ở gỗ, cao su, nông sản đang đọng vốn của doanh nghiệp, mà đây thực chất là biện pháp giải phóng dòng tiền trực tiếp, không tốn ngân sách mới, chỉ cần kỷ luật quy trình và công nghệ.
Đây là nhóm đánh thẳng vào vấn đề lõi thứ hai, và cũng là chỗ kinh nghiệm quốc tế cho lời giải rõ ràng nhất. Cơ chế của nhập siêu đã được mổ xẻ ở kỳ trước: khối FDI xuất khẩu gần như trọn vẹn giá trị điện thoại và linh kiện nhưng nhập tới khoảng 80% giá trị các linh kiện đó, tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử chỉ 5 đến 10%, nên xuất khẩu điện tử tăng càng nhanh thì nhập khẩu linh kiện tăng càng mạnh. Muốn đảo chiều bền vững, không thể siết nhập khẩu bằng biện pháp hành chính mà phải thay dần đầu vào nhập khẩu bằng sản phẩm sản xuất trong nước.
Bài học Trung Quốc là cốt lõi và trực tiếp nhất: hàm lượng nội địa trong xuất khẩu của họ tăng dần chính vì doanh nghiệp từng bước thay thế đầu vào nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước, được khuếch đại bởi chính sách chủ động xây năng lực nội địa cho các linh kiện trọng yếu trong khi vẫn giữ liên kết sâu với chuỗi toàn cầu. Đây đúng là cơ chế tự thu hẹp nhập siêu từ bên trong: ban đầu nhập linh kiện để lắp ráp, sau đó dần tự làm được linh kiện.
Áp dụng vào Việt Nam, công cụ chính sách nên đi theo ba hướng. Một là một chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hỗ trợ có mục tiêu định lượng rõ, đặt mốc kéo nội địa hóa điện tử từ 5 đến 10% hiện nay lên mức cao hơn hẳn trong 5 đến 10 năm. Hai là, học cách Hàn Quốc hệ thống hóa chính sách thầu phụ và nội địa hóa linh kiện từ rất sớm, với đạo luật xúc tiến năm 1975 và cơ chế từ năm 1981 buộc cơ quan nhà nước ký thỏa thuận mua sắm trước với các hợp tác xã doanh nghiệp nhỏ và vừa, tức là chủ động nuôi nhà cung cấp nội địa. Ba là tiếp thu công cụ hiện đại và hợp WTO hơn của Ấn Độ: chương trình Ưu đãi gắn sản lượng (PLI) chỉ chi tiền khi doanh nghiệp thực sự sản xuất và bán được hàng, đã giúp Ấn Độ vừa đẩy xuất khẩu điện thoại vừa giảm gần 77% nhập khẩu điện thoại so với năm tài khóa 2020 đến 2021, đáp ứng trên 99% nhu cầu trong nước bằng sản xuất nội địa. Một cơ chế thưởng theo sản lượng như vậy vừa kéo tăng trưởng, vừa kiểm soát được ngân sách, vừa đánh thẳng vào bài toán nội địa hóa.
Cũng tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/6/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đề nghị Bộ Công Thương tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, coi sản xuất là yếu tố quan trọng hàng đầu bởi sản xuất bền vững là nền tảng của xuất khẩu bền vững.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc sau cú sốc tranh chấp vật liệu, linh kiện, thiết bị với Nhật Bản năm 2019 cũng rất đáng lưu tâm: ngay một nền kinh tế công nghệ cao vẫn dễ tổn thương ở khâu đầu vào nếu chưa nội địa hóa chiều sâu các đầu vào chiến lược. Việt Nam cần chủ động nội địa hóa những vật liệu, linh kiện cốt yếu cho điện tử, dệt may, da giày để mỗi điểm tăng xuất khẩu không còn kéo theo một điểm nhập siêu tương ứng.
Nếu nhập siêu là biểu hiện thì nội lực doanh nghiệp còn yếu là gốc rễ. Mục tiêu hai con số bền vững không thể chỉ đặt lên vai khối FDI, vì FDI tăng nhanh nhưng giá trị giữ lại trong nước còn thấp và dễ dịch chuyển theo dòng vốn. Khối nội địa mạnh ở các ngành dựa trên tài nguyên và lao động trong nước như thủy sản, gỗ, cà phê, gạo, rau quả, hồ tiêu, một phần dệt may và da giày, nhưng yếu vì quy mô nhỏ, vốn mỏng, công nghệ và năng suất thấp, thương hiệu riêng yếu, phần lớn vẫn xuất thô hoặc dưới nhãn nước ngoài.
Việt Nam đã có sẵn một lớp doanh nghiệp vươn ra thế giới bằng thương hiệu riêng như Vĩnh Hoàn, Minh Phú, Hòa Phát, Vinamilk, TH true Milk, nên việc cần làm là nhân rộng lớp này thành một tầng dày các "nhà vô địch" của Việt Nam theo từng ngách nông sản chế biến sâu, thực phẩm, đồ gỗ, cơ khí. Công cụ chính sách là dùng đòn bẩy Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 198/2025/QH15 và Nghị quyết 57-NQ/TW để hỗ trợ doanh nghiệp nội về vốn ưu đãi cho dự án xanh và đạt chuẩn ESG, về công nghệ và R&D, về đào tạo nhân lực kỹ thuật, và đặc biệt là hỗ trợ chi phí bảo hộ nhãn hiệu tại EU, Mỹ, Nhật để hàng Việt thoát cảnh bán dưới nhãn người khác.
Nhóm này xuất phát từ một thực tế đã chỉ rõ ở kỳ trước: dòng vốn FDI lớn nhưng không tự động nâng được doanh nghiệp nội, hai khu vực vận hành gần như song song, ít gối đầu. Trong hệ Samsung chỉ có khoảng 50 doanh nghiệp là nhà cung ứng cấp một và 170 doanh nghiệp cấp hai, mà phần lớn linh kiện nội địa hóa lại do chính các vệ tinh Hàn Quốc cung cấp; doanh nghiệp Việt chủ yếu làm bao bì, nhựa, cơ khí đơn giản, in ấn, là những công đoạn giá trị thấp.
FDI không xấu, vấn đề là thiết kế chính sách để FDI kéo theo nhà cung ứng nội địa. Công cụ cụ thể cho Việt Nam gồm: gắn điều kiện nội địa hóa và chuyển giao công nghệ vào chính sách ưu đãi thuế, đất, tín dụng theo lộ trình, ưu tiên dự án quy mô lớn công nghệ cao có chuyển giao thực thay vì ưu đãi đại trà và xây chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp Việt đạt chuẩn để chen vào chuỗi cấp một, cấp hai của Samsung, Apple, LG và ngành bán dẫn.
Trong thu hút FDI thế hệ mới, nhất là làn sóng bán dẫn với hơn 170 dự án và gần 11,6 tỷ USD vốn tính đến cuối 2025, phải dứt khoát chuyển trọng tâm từ thu hút số lượng sang thu hút chất lượng và liên kết.
Định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về thu hút đầu tư nước ngoài là kim chỉ nam: ưu tiên dòng vốn công nghệ cao, gắn với chuyển giao thực chất và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước học hỏi, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi, thay vì dừng lại ở khâu gia công. Kinh nghiệm Ireland cũng là một tham chiếu để Việt Nam lưu ý: mô hình xuất khẩu do FDI dẫn dắt cho con số đẹp nhưng chưa thật vững, khi 53% xuất khẩu hàng hóa Ireland dồn vào một ngành dược và phụ thuộc một thị trường Mỹ, chỉ một thay đổi thuế quan đã đặt khoảng 44 tỷ EUR xuất khẩu vào rủi ro. Phải dùng FDI làm đòn bẩy chuyển giao công nghệ và kéo doanh nghiệp nội vào chuỗi, không để FDI thành ốc đảo trong nền kinh tế.
Định hướng ấy nay đã có căn cứ chính trị cao nhất và mới nhất. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xác định một tư duy mới: chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu, thu hút theo cụm ngành và chuỗi giá trị thay vì theo địa giới hành chính.
Đáng chú ý với bài toán xuất khẩu là những đích định lượng đến năm 2030: tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 đến 50%, khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, hình thành từ 500 đến 1.000 nhà cung ứng cấp một (Nghị quyết 10-NQ/TW, 8/6/2026).
Đây chính là những con số biến mong muốn liên kết thành mục tiêu kiểm đếm được, đánh trúng gốc của nhập siêu nguyên liệu và mở đường nâng phần giá trị giữ lại trong nước. Nghị quyết cũng đặt nhiệm vụ xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước, lập cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối nhà cung ứng, đồng thời khuyến khích và yêu cầu doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cam kết chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và đào tạo nhân lực Việt Nam, cùng hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng năng lực quản trị, công nghệ và tiêu chuẩn để chen được vào chuỗi.
Ở tầm tư duy, Nghị quyết 10-NQ/TW nâng việc thu hút đầu tư nước ngoài lên thành xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới năm 2045 khu vực này đóng góp khoảng 30% GDP và gắn chặt với đào tạo nhân lực chất lượng cao, với tỷ trọng lao động qua đào tạo khoảng 80%. Đặt cạnh mục tiêu xuất khẩu hai con số, đây là một cam kết chính trị quan trọng: dòng vốn ngoại không chỉ để tạo kim ngạch, mà phải nâng được nội lực thật của nền kinh tế, qua chuyển giao công nghệ và qua một lớp nhà cung ứng Việt ngày càng dày. Định hướng của Nghị quyết vì thế ăn khớp trực tiếp với hai nhóm giải pháp xương sống là nội địa hóa, công nghiệp hỗ trợ và nâng nội lực doanh nghiệp Việt đã nêu ở trên.
Đây là nhóm đòn bẩy có thể tạo kết quả nhanh nhất mà không cần đợi sản lượng tăng kịp, vì dư địa đã có sẵn nhưng đang bỏ ngỏ. Việt Nam có mạng lưới 17 FTA đã hiệu lực tính đến tháng 2 năm 2026, mới nhất là CEPA Việt Nam UAE, cộng 2 FTA đang đàm phán, đưa hàng Việt tiếp cận hầu hết các thị trường lớn. Nhưng tỷ lệ tận dụng ưu đãi còn thấp: tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi EUR.1 theo EVFTA năm 2024 mới đạt khoảng 35,1%, dù đã tăng từ khoảng 14,8% năm đầu.
Điều đáng chú ý là một số ngành đã làm rất tốt, như chè khoảng 99,2%, thủy sản 84,4%, tiêu 75,3%, da giày gần 100%, cho thấy nút thắt không nằm ở thiếu ưu đãi mà ở quy tắc xuất xứ, chứng từ và năng lực doanh nghiệp. Gỡ đúng nút này là cách nhanh nhất nâng giá trị xuất khẩu, bằng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ theo CPTPP, EVFTA, REX và ATIGA, hỗ trợ kỹ thuật để doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ, và đào tạo để doanh nghiệp hiểu và dùng được ưu đãi.
Song song là đa dạng hóa thị trường để hóa giải rủi ro tập trung. Việt Nam cần tăng vai trò hệ thống thương vụ ở nước ngoài, mở rộng vào các thị trường còn dư địa như Ấn Độ, khu vực Đông Bắc Á, Trung Đông qua CEPA UAE và thị trường Halal, châu Mỹ Latinh, châu Phi và khu vực châu Đại Dương, đồng thời đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới để doanh nghiệp nội tiếp cận trực tiếp nhà nhập khẩu, bớt khâu trung gian.
Để khuyến nghị đa dạng hóa có khung đo đếm, có thể neo vào định hướng cơ cấu thị trường của Quyết định 493/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030: đến năm 2030, xuất khẩu hướng tới châu Á chiếm khoảng 46 - 47%, châu Mỹ khoảng 33 - 34%, châu Âu khoảng 18 - 19%. Ở chiều nhập khẩu, châu Á khoảng 75%, châu Âu và châu Mỹ mỗi khu vực khoảng 10 - 11%. Khung cơ cấu ấy biến mục tiêu đa dạng hóa từ một mong muốn thành một thước đo theo dõi được qua từng năm.
Nhóm này gỡ một điểm nghẽn xuyên suốt cả thể chế lẫn không gian: chi phí logistics trên GDP của Việt Nam còn cao so với khu vực, hạ tầng cảng, kho bãi, kết nối đa phương thức chưa đồng bộ, đội giá thành và bào mòn sức cạnh tranh, đặc biệt với doanh nghiệp nội quy mô nhỏ. Khung hành động đã có ở Quyết định 458/QĐ-BCT ngày 13 tháng 3 năm 2026 về phát triển dịch vụ logistics 2025 đến 2035, với 9 nhóm nhiệm vụ và mục tiêu đưa logistics thành ngành kinh tế nền tảng. Việc cần làm là triển khai mạnh quyết định này với ưu tiên rõ cho hậu phương cảng, đặt mục tiêu kéo tỷ lệ chi phí logistics trên GDP về ngang mức cạnh tranh khu vực.
Cụ thể, phải dồn lực cho các nút đang nghẽn: giải tỏa ùn tắc cửa ngõ Cát Lái bằng cảng cạn ICD, trung tâm logistics vệ tinh và phân luồng giao thông; đẩy nhanh kết nối hậu phương cho cụm cảng nước sâu Cái Mép Thị Vải và Lạch Huyện bằng đường bộ, đường sắt và thủy nội địa; và đầu tư trung tâm logistics nông sản, kho lạnh, cảng cho đồng bằng sông Cửu Long để vùng vựa nông thủy sản không phải mượn cảng Đông Nam Bộ.
Gắn liền với logistics là bảo vệ uy tín xuất xứ hàng Việt. Khi hàng Việt được hưởng ưu đãi từ 17 FTA và đang chịu sức ép thuế quan từ Hoa Kỳ, nguy cơ gian lận xuất xứ, đội lốt hàng Việt để né thuế là rủi ro lớn có thể kéo theo các biện pháp phòng vệ và mất uy tín cả ngành hàng. Nền pháp lý đã có ở Nghị định 31/2018/NĐ-CP về xuất xứ hàng hóa và hệ thống phòng vệ thương mại theo Luật Quản lý ngoại thương.
Trong bối cảnh sức ép thuế quan và làn sóng điều tra phòng vệ ngày càng dày, phòng vệ thương mại nên được nâng từ thế phòng thủ thành một trụ chủ động: một mặt xây dựng năng lực cảnh báo sớm nguy cơ bị kiện cho từng ngành hàng, hỗ trợ doanh nghiệp theo kiện và chứng minh xuất xứ; mặt khác chủ động sử dụng hợp lý công cụ phòng vệ với hàng nhập khẩu để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước còn non, đúng khuôn khổ pháp luật và cam kết quốc tế. Cùng đó, ứng phó với CBAM và yêu cầu kinh tế xanh cần được đưa thẳng vào nhóm giải pháp: hỗ trợ doanh nghiệp kiểm kê và kê khai phát thải, đầu tư công nghệ sản xuất phát thải thấp ở thép, xi măng, phân bón, để biến tiêu chuẩn xanh thành tấm vé vào cửa thị trường EU đúng cách ngành cà phê đã hóa giải EUDR.
Nhóm cuối khắc phục tình trạng mất cân đối không gian. Hướng xử lý là phát huy có chọn lọc các cực hiện hữu nhưng đồng thời nâng nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ quanh các tổ hợp Samsung ở Bắc Ninh, Thái Nguyên để giá trị thực ở lại Việt Nam, không chỉ là kim ngạch chạy qua. Việc sắp xếp còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh đã xóa một phần ranh giới hành chính từng cản trở chuỗi sản xuất và cảng biển, mở dư địa để thể chế hóa liên kết vùng thực chất bằng một cơ chế điều phối vùng có thẩm quyền và nguồn lực thật, quy hoạch khu công nghiệp và hạ tầng theo vùng thay vì theo tỉnh.
Cùng đó là gỡ nút logistics và chế biến sâu cho đồng bằng sông Cửu Long để kéo tỷ trọng xuất khẩu của vùng lên tương xứng tiềm năng, và tạo thêm cực tăng trưởng xuất khẩu mới ở miền Trung cùng các vành đai phụ trợ quanh hai cực hiện hữu, để mục tiêu hai con số có thêm trụ đỡ không gian, giảm rủi ro dồn vào quá ít địa phương.
Bảy nhóm giải pháp có độ chín và thời gian phát huy khác nhau, nên cần phân kỳ thành hai chặng rõ ràng để vừa không lỡ nhịp trước mắt, vừa không sa vào ngắn hạn mà bỏ gốc.
Chặng ngắn hạn trong năm 2026 lấy mục tiêu giữ đà tăng trưởng và ứng phó sức ép bên ngoài. Đà đang thuận với mức tăng xuất khẩu 19,5% trong 5 tháng đầu năm, nên việc trước hết là không để đứt mạch. Ứng phó chặng này gồm bốn việc làm ngay: gỡ ba nút thực thi về thủ tục, kiểm tra chuyên ngành và hoàn thuế để giảm chi phí cho doanh nghiệp; đẩy mạnh tận dụng FTA và đa dạng hóa thị trường; áp dụng nhanh các công cụ tài chính thương mại chi phí thấp kiểu thư tín dụng giáp lưng và kho ngoại quan để tháo vốn lưu động cho doanh nghiệp nội; và siết kiểm soát xuất xứ để bảo vệ hàng Việt khỏi rủi ro bị vạ lây vì gian lận đội lốt. Đồng thời phát tín hiệu chính sách dài hạn bằng việc chốt kịch bản điều hành hai con số và khởi động chương trình công nghiệp hỗ trợ, để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.
Chặng trung hạn từ 2027 - 2030 lấy mục tiêu nâng nội lực để đạt hai con số bền vững, và đây mới là chặng quyết định. Trọng tâm dồn vào ba khuyến nghị cốt lõi cần thời gian tích lũy: triển khai sâu chương trình công nghiệp hỗ trợ và nội địa hóa để nâng rõ rệt tỷ lệ nội địa hóa và thu hẹp nhập siêu một cách cấu trúc; dựng tầng doanh nghiệp Việt mạnh với thương hiệu riêng và thiết chế trung gian thương mại; chuyển hẳn thu hút FDI sang chất lượng và liên kết, gắn làn sóng bán dẫn với đào tạo nhân lực và R&D thực chất. Cùng đó là đầu tư hạ tầng logistics và hậu phương cảng, thể chế hóa liên kết vùng và mở thêm cực tăng trưởng.
Trở lại nghịch lý đã mở ra từ kỳ đầu tiên. 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu tăng 19,5%, một tốc độ trong mơ. Nhưng tốc độ ấy đi cùng nhập siêu trở lại, đi cùng một khối nội địa chỉ nhích 2,9% trong khi khối ngoại chiếm gần 4/5 kim ngạch, đi cùng một hàm lượng giá trị giữ lại đang mỏng dần. Con số đẹp, nhưng là con số của một nền kinh tế bán rất nhiều mà giữ lại còn ít.
Đó chính là điểm mấu chốt mà cả ba kỳ báo này muốn đặt lên bàn nghị sự. Hai con số có thể đạt được trong một năm bằng cách đẩy mạnh gia công, nhập nhiều đầu vào rồi lắp ráp xuất đi. Nhưng một con số đẹp dựng trên nền vay mượn ấy sẽ khó đứng vững khi một cơn gió ngược thổi tới, một mức thuế mới, một cú sốc giá dầu, một hàng rào kỹ thuật siết lại. Còn hai con số dựng trên công nghiệp hỗ trợ làm chủ được đầu vào, trên một tầng dày doanh nghiệp Việt có thương hiệu riêng, trên những cực tăng trưởng trải đều hơn và những cảng thông suốt hơn, thì mới trụ được qua nhiều năm, qua nhiều cơn gió.
Lời giải cho bài toán này, như mọi phân tích đã chỉ ra, không nằm ở một phép màu mà ở một chương trình nội lực bền bỉ: bảy nhóm giải pháp khóa vào nhau, hai chặng đường rõ ràng, và một quyết tâm chính sách đủ cao, đủ đồng bộ giữa các cấp. Dư địa đã có, từ 17 FTA chưa khai thác hết, tới các bài học thế giới đã được kiểm chứng, tới khung chủ trương đầy đủ ở cả bốn tầng. Việc còn lại là biến chủ trương thành hành động có kiểm đếm, biến kim ngạch danh nghĩa thành giá trị thực giữ lại trong nền kinh tế.
Hai con số, vì thế, không phải đích đến mà là phép thử. Nó thử xem Việt Nam chọn gì: một con số đẹp trong một năm, hay một nền tảng vững qua nhiều năm. Câu trả lời ấy, chọn một cách dứt khoát ngay từ bây giờ, sẽ quyết định nền xuất khẩu Việt Nam 10 năm tới đứng ở đâu trên bản đồ thương mại thế giới.