Ông Lê Văn Hoàng, Giám đốc Công ty TNHH MTM Cà phê Bazan Đắk Nông đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.
Chất lượng cà phê không bắt đầu từ quầy
- Cơ duyên nào đưa ông đến với cà phê, ca cao và hành trình khởi nghiệp?
Ông Lê Văn Hoàng: Trước đây, tôi làm trong lĩnh vực tài chính - kế toán tại địa phương. Sau khoảng hai năm, tôi quyết định tìm hướng đi riêng, với mong muốn khởi nghiệp như nhiều bạn trẻ khác.

Ông Lê Văn Hoàng giới thiệu quy trình thu hái cà phê chín cho khách tham quan tại trang trại Enjoy Coffee. Ảnh: Hồng Thủy.
Tôi đến với cà phê khá tự nhiên, do sinh ra trong môi trường có nhiều người thân làm nghề này. Năm 2014, tôi mở một quán nhỏ với mục tiêu đơn giản là mang đến ly cà phê nguyên chất cho người Việt.
Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, tôi nhận ra chất lượng cà phê không chỉ nằm ở khâu pha chế. Có những ngày cùng một cách pha, cùng loại hạt nhưng hương vị lại khác nhau. Khi đó, tôi hiểu rằng, vấn đề nằm ở những khâu trước đó, từ vùng trồng, thu hái đến sơ chế.
Năm 2015, tôi quyết định chuyển từ bán lẻ sang sản xuất, thành lập Công ty TNHH MTM Cà phê Bazan Đắk Nông. Ban đầu, chúng tôi tìm nguồn nguyên liệu ở nhiều nơi, nhưng sau đó quay về chính địa phương để làm việc trực tiếp với nông dân.
Khó khăn lớn nhất không phải là vốn hay công nghệ, mà là thuyết phục nông dân thay đổi tập quán sản xuất. Khi chưa có uy tín, mọi đề xuất đều khó được chấp nhận. Vì vậy, chúng tôi chọn cách làm trước.
Doanh nghiệp thuê một trang trại khoảng 10 ha để triển khai toàn bộ quy trình từ chăm sóc, thu hoạch đến sơ chế. Sau hơn một năm, kết quả cho thấy chất lượng và giá trị sản phẩm được cải thiện rõ rệt. Khi người dân nhìn thấy hiệu quả, họ bắt đầu tin và làm theo.
Chúng tôi xác định “uy tín” là yếu tố cốt lõi. Doanh nghiệp không chỉ thu mua, mà tham gia từ đầu chuỗi, hướng dẫn quy trình, hỗ trợ kỹ thuật và cam kết thu mua với giá cao hơn thị trường nếu sản phẩm đạt tiêu chuẩn.
Có thời điểm giá thị trường chỉ hơn 30.000 đồng/kg, chúng tôi vẫn thu mua ở mức 50.000 - 70.000 đồng/kg. Điều này tạo động lực để nông dân thay đổi cách làm.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp hỗ trợ xây dựng nhà màng sơ chế, cho mượn thiết bị, tổ chức đào tạo và các cuộc thi đánh giá chất lượng. Khi nông dân tự thử nếm và nhận ra sự khác biệt, họ chủ động cải thiện quy trình.
Hiện nay, chúng tôi liên kết với 5 hợp tác xã và hơn 100 nông hộ. Quy mô không lớn, nhưng có thể kiểm soát chi tiết từng lô hàng. Mỗi sản phẩm đều có “hồ sơ” riêng, ghi rõ thông tin về vùng trồng, quy trình, thời điểm thu hoạch và sơ chế. Nhờ đó, truy xuất nguồn gốc trở thành một phần tự nhiên trong vận hành, tạo lợi thế khi tham gia thị trường quốc tế.
Trong quá trình làm cà phê, chúng tôi cũng nhận thấy, ca cao là cây trồng có tiềm năng. Dù ban đầu gặp khó khăn tương tự, doanh nghiệp tiếp tục lựa chọn cách làm thực tế: tự nghiên cứu, chế biến và tìm thị trường.
Điểm thuận lợi là ca cao không cạnh tranh mà bổ trợ cho cà phê theo mùa vụ. Khi cà phê kết thúc, ca cao bắt đầu, giúp nông dân tăng thu nhập. Hiện, có khoảng 6 hợp tác xã tham gia cung ứng ca cao với diện tích hơn 100 ha, đồng thời doanh nghiệp phát triển các sản phẩm chocolate để mở rộng thị trường.
Xây dựng thương hiệu từ địa phương ra thị trường quốc tế
- Theo ông, đâu là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ trong chuỗi giá trị nông sản?
Ông Lê Văn Hoàng: Lợi thế của doanh nghiệp nhỏ không nằm ở sản lượng, mà ở khả năng bám sát vùng trồng. Chúng tôi có thể theo dõi từng quy trình, hiểu rõ từng khu vườn, từng cách làm của nông hộ, điều mà các doanh nghiệp lớn khó thực hiện do chi phí cao.

Ông Lê Văn Hoàng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Cà phê Bazan Đắk Nông. Ảnh: Thanh Nga.
Vì vậy, sản phẩm không cần nhiều về số lượng, nhưng phải rõ về nguồn gốc và chất lượng. Trong nhiều đơn hàng xuất khẩu, khách hàng quan tâm rất sâu đến thông tin như vùng trồng, quy trình sơ chế, thời gian lên men… Những yếu tố này ngày càng trở thành giá trị cốt lõi của sản phẩm.
Mối quan hệ với nông dân cũng được xây dựng trên nền tảng niềm tin. Có những hộ đã đồng hành gần chục năm mà không cần ràng buộc hợp đồng. Doanh nghiệp không đặt mục tiêu độc quyền, mà hướng tới nâng cao chất lượng chung của cả vùng nguyên liệu.
Khi chất lượng tăng, lợi ích sẽ lan tỏa cho toàn bộ chuỗi. Đây cũng là điều kiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, khi đối tác không chỉ nhìn vào chứng chỉ mà trực tiếp kiểm tra quy trình sản xuất.
- Doanh nghiệp đã phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu như thế nào, thưa ông?
Ông Lê Văn Hoàng: Khởi nghiệp tại một địa phương quy mô nhỏ như Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), chúng tôi tận dụng lợi thế lan tỏa “truyền miệng”. Khi sản phẩm tốt, câu chuyện sẽ tự lan ra cộng đồng và theo chân khách hàng đến nhiều thị trường khác nhau.
Nhờ đó, doanh nghiệp được nhận diện tại địa phương trước khi mở rộng ra bên ngoài. Khi xu hướng tiêu dùng chuyển sang sản phẩm chất lượng cao, chúng tôi tận dụng lợi thế vùng nguyên liệu để phát triển.
Hiện nay, ngoài thị trường nội địa, sản phẩm đã tiếp cận các thị trường quốc tế như Nhật Bản và Hoa Kỳ. Doanh nghiệp từng vận hành điểm bán tại Osaka và hiện vẫn duy trì hoạt động phân phối tại đây.
Hai dòng sản phẩm chủ lực là cà phê và ca cao (chế biến thành chocolate) đã hình thành tệp khách hàng tương đối ổn định, tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Không có con đường tắt nào để đến thành công
- Nhìn lại hành trình hơn 10 năm, ông rút ra bài học gì và có lời khuyên nào cho người trẻ?
Ông Lê Văn Hoàng: Khởi nghiệp trong nông nghiệp không có con đường tắt. Tăng trưởng là quá trình tích lũy qua từng mùa vụ, từng thử nghiệm và cả thất bại.
Sau hơn 10 năm, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân ngày càng gắn bó. Trong những thời điểm khó khăn, chính nông dân là lực lượng hỗ trợ rất lớn. Sự hợp tác này dựa trên nguyên tắc hài hòa lợi ích và niềm tin lâu dài.
Uy tín phải được xây dựng bằng thời gian và kết quả thực tế. Chúng tôi luôn tự hỏi sản phẩm có thực sự tốt hơn mỗi ngày hay không. Khi làm được điều đó, việc mở rộng thị trường sẽ đến một cách tự nhiên.
Với người trẻ, điều quan trọng nhất là sự kiên trì. Khởi nghiệp trong nông nghiệp không phải con đường làm giàu nhanh, mà đòi hỏi tích lũy dài hạn. Sau hơn 10 năm, với chúng tôi, hành trình này vẫn đang tiếp diễn.
Xin cảm ơn ông!
Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cà phê Robusta, trong khi các thị trường này ưa chuộng Arabica. Bên cạnh đó, trong thời gian dài, ngành cà phê trong nước chưa chú trọng nhiều đến khâu sau thu hoạch và nâng cao chất lượng. Tuy nhiên, xu hướng đang thay đổi. Các doanh nghiệp trẻ bắt đầu đầu tư vào chế biến sâu, nâng cao chất lượng Robusta để phục vụ nhu cầu phối trộn (blend) trên thị trường quốc tế. Đây được xem là hướng đi tiềm năng, giúp cà phê Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trong phân khúc chất lượng cao.




