Giữa vùng cao Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, nghệ nhân Chẻo A Sử bền bỉ gìn giữ nghề chạm bạc của người Dao Khâu, nối tiếp truyền thống cha ông và mở thêm hướng sinh kế từ những giá trị văn hóa dân tộc.
Nghệ nhân Chẻo A Sử bền bỉ gìn giữ nghề chạm bạc của người Dao Khâu.
Giữ "lửa" truyền thống trong từng đường chạm
Trong căn nhà gỗ bên sườn núi ở bản Phăng Xô Lin (xã Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu), góc chế tác của ông Chẻo A Sử chỉ có những dụng cụ giản dị: đục nhỏ, búa con, than và tấm đe đã mòn. Gắn bó với ông qua hàng chục năm, chúng là phương tiện để những thỏi bạc trở thành vòng tay, xà tích, đồ trang sức mang dấu ấn dân tộc Dao Khâu. Mỗi sản phẩm đi qua đôi bàn tay người thợ đều chứa đựng công sức, kinh nghiệm và sự nâng niu đối với nghề của cha ông để lại.
Hơn 20 năm theo nghề, ông Sử hiểu rằng vẻ đẹp của bạc không thể có được bằng sự vội vàng. Một đôi vòng tay chạm khắc tinh tế cần khoảng ba ngày làm việc; bộ xà tích có thể cần ba đến bốn người cùng làm trong một tuần. Những họa tiết nhỏ đòi hỏi người thợ tập trung vào từng chi tiết, điều chỉnh từng nhát đục. Bởi vậy, điều giữ ông bên bàn chế tác là lòng kiên trì, cùng mong muốn mỗi món đồ hoàn thành đều xứng đáng với niềm tin của người đặt làm.
Ông Chẻo A Sử chia sẻ: “Nghề chạm bạc đến với tôi từ thuở đôi mươi, khi ngày ngày theo cha học cách cầm đục, mài bạc, tôi lửa rồi chạm khắc hoa văn. Những thao tác tưởng chừng đơn giản phải được rèn luyện liên tục mới trở nên thuần thục”. Theo thời gian, đôi bàn tay chai sạn cũng là lúc đường nét trên sản phẩm ngày càng tinh tế. Từ vốn nghề được trao truyền trong gia đình, ông Sử tiếp tục tích lũy kinh nghiệm, gìn giữ những mẫu hoa văn gắn với đời sống và quan niệm của cộng đồng.
Chiếc vòng tay của người Dao Khâu được chạm khắc tỉ mẩn dưới đôi bàn tay của nghệ nhân Chẻo A Sử.
Trên những món trang sức ấy, hình rồng, phượng, mặt trăng hay mô típ cây cỏ tạo nên nét riêng của nghề chạm bạc. Giá trị của sản phẩm vì thế vượt ra ngoài công dụng làm đẹp, gắn với câu chuyện văn hóa và tín ngưỡng. Theo ông Sử, người Dao Khâu dùng bạc trong nhiều dịp quan trọng như cưới hỏi, sinh con, tang lễ. Quan niệm đeo bạc để trừ tà cũng được ông nhắc đến như một phần phong tục của cộng đồng, cho thấy vị trí của bạc trong đời sống tinh thần.
Sự gắn bó ấy hiện diện qua nhiều thế hệ trong gia đình chị Tẩn U Mẩy, ở bản Phăng Xô Lin. Chị cho biết, từ đời bà, đời mẹ, gia đình đã gìn giữ trang sức bạc và đặt làm tại nhà ông Sử. Với chị, những món đồ này là phần không thể thiếu của trang phục truyền thống. Sự tinh xảo, độ bền và nét hoa văn quen thuộc khiến cả người lớn lẫn trẻ nhỏ trong gia đình đều quý trọng sản phẩm ông làm ra.
Niềm tin của người trong bản cũng là điều ông Giàng A Páo, Phó Chủ tịch UBND xã Sìn Hồ, nhắc đến khi nói về người thợ bền bỉ giữ nghề. “Từ những món trang sức gắn với bộ trang phục người Dao Khâu, có thể thấy việc bảo tồn không nằm ở những khái niệm xa xôi mà hiện diện ngay trong nhu cầu sử dụng của người dân. Khi vòng bạc, xà tích vẫn được trân trọng và trao lại giữa các thế hệ, nghề thủ công còn có chỗ đứng trong đời sống”, ông Páo cho biết.
Giữ bản sắc, tăng thu nhập
Chia sẻ với chúng tôi khi đến thăm xưởng chế tác nho nhỏ, ông Sử trăn trở khi giới trẻ ngày càng chuộng những món đồ hiện đại, sáng bóng và dễ mua. Trong khi đó, chạm bạc thủ công đòi hỏi thời gian học nghề, sự nhẫn nại và khả năng làm việc với những chi tiết. Khoảng cách giữa sở thích mới và nghề cũ đặt ra yêu cầu phải giúp người trẻ hiểu giá trị của sản phẩm, đồng thời nhìn thấy cơ hội gắn bó lâu dài với nghề.
Trang sức bạc là phần không thể thiếu trong trang phục truyền thống của người Dao Khâu ở Sìn Hồ.
Từ suy nghĩ ấy, ông chủ động truyền dạy cho thanh niên trong bản. Ban đầu, nhiều người còn e dè, ngại khó; qua sự chỉ bảo tận tình, đã có vài thanh niên theo học và bắt đầu yêu nghề. Cách “cầm tay chỉ việc” giúp kinh nghiệm được trao bằng thực hành, từ thao tác cơ bản đến những đường chạm cần độ chính xác. “Giữ nghề một mình thì không thể lâu dài. Phải có người học, người kế tục thì mới mong nghề tồn tại với bản, với dân tộc mình”, ông Sử chia sẻ.
Cùng với nỗ lực của người thợ, thời gian qua, chính quyền xã Sìn Hồ phối hợp với các đơn vị chuyên môn tổ chức lớp truyền nghề, hỗ trợ công cụ sản xuất và tạo điều kiện để nghệ nhân tham gia hội chợ, triển lãm. Những hoạt động này nối việc gìn giữ kỹ năng với giới thiệu sản phẩm, giúp nghề truyền thống có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng. Qua các sự kiện văn hóa, sản phẩm chạm bạc của ông Sử bước đầu thu hút sự quan tâm của du khách và thị trường.
Theo Phó Chủ tịch UBND xã Sìn Hồ Giàng A Páo, người Dao coi trọng trang sức bạc, thường sử dụng cùng trang phục truyền thống vào ngày lễ, Tết. Việc duy trì nghề vừa góp phần giữ bản sắc, vừa giúp người dân có thêm thu nhập. Nhu cầu văn hóa ở ngay trong cộng đồng vì vậy vẫn là nền tảng để người thợ tiếp tục làm nghề, trước khi mở rộng khả năng tiêu thụ đến những nhóm khách hàng khác.
Nhiều sản phẩm phong phú từ bạc của ông Chẻo A Sử được người dân trong bản và du khách ưa thích, tin tưởng đặt mua.
Sản phẩm của ông Sử được người dân trong và ngoài bản tin tưởng, đặt mua trong các dịp lễ, cưới hỏi, mừng thọ. Có thời điểm, một mình ông chế tác không kịp đơn hàng, nhưng chất lượng và giá trị truyền thống vẫn được đặt lên trước.
Nghề chạm bạc ở Sìn Hồ được gìn giữ bằng sự bền bỉ của những người thợ như ông Chẻo A Sử, sự trân trọng của cộng đồng và những hoạt động hỗ trợ từ địa phương. Từ nền tảng ấy, việc truyền dạy cho thế hệ trẻ gắn với mở rộng đầu ra cho sản phẩm sẽ tạo thêm điều kiện để người dân sống bằng nghề, tiếp nối giá trị văn hóa của cha ông. Đó cũng là hướng đi để những vòng bạc, bộ xà tích mang bản sắc văn hóa Dao Khâu tiếp tục hiện diện trong đời sống, góp phần bảo tồn nghề truyền thống và phát triển sinh kế tại vùng cao Lai Châu.