Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định một chỉnh thể của nền kinh tế Việt Nam: kinh tế nhà nước dẫn dắt, kiến tạo; kinh tế tư nhân bứt phá, sáng tạo. Hai khu vực khác nhau về chức năng, nhưng gắn bó chặt chẽ và không thể tách rời.
Trải qua 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều 51 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xác định đây là nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Ngay từ nền tảng pháp lý, Việt Nam xác định nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, cùng được khuyến khích phát triển, bình đẳng trước pháp luật; sự khác nhau nằm ở vai trò và chức năng, không phải ở “thứ bậc” cao thấp.
Trong mô hình ấy, việc xác định đúng vị trí, vai trò của từng thành phần là vấn đề chiến lược. Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, ổn định vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn. Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đặt cạnh nhau, hai văn kiện cho thấy một tư duy nhất quán: mỗi khu vực phát huy thế mạnh riêng, cùng hướng tới mục tiêu nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tự chủ, chống chịu tốt trước biến động bên ngoài.
Kinh tế nhà nước: Người dẫn đường, giữ nền
Cần hiểu đúng khái niệm “chủ đạo”. Đó không phải là chiếm tỷ trọng tuyệt đối hay can thiệp sâu vào mọi lĩnh vực, càng không phải bao cấp hay “lấn át” các thành phần khác. “Chủ đạo” thể hiện ở năng lực định hướng, dẫn dắt, điều phối và tạo lập môi trường phát triển cho toàn bộ nền kinh tế.
Nghị Quyết số 79-NQ/TW xác định kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước giữ, quản lý và chi phối. Nguồn lực này không chỉ là vốn, mà còn là tài nguyên, dự trữ quốc gia và các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu như hạ tầng, năng lượng, tài chính, quốc phòng - an ninh.
Kinh tế nhà nước đảm nhận những chức năng nền tảng và trách nhiệm chiến lược mà toàn bộ nền kinh tế cần có. Sự hiện diện của kinh tế nhà nước đã “mở đường”: một tuyến cao tốc hoàn thành làm giảm chi phí logistics cho mọi doanh nghiệp; một nguồn điện ổn định là điều kiện sống còn của nhà máy; một hệ thống tài chính an toàn giúp doanh nghiệp tin tưởng để đầu tư dài hạn. Hạ tầng và nền tảng mà Nhà nước tạo lập là “sân chơi” để kinh tế tư nhân phát triển.
Kinh tế nhà nước còn là lực lượng giữ ổn định trong những thời điểm đầy thách thức. Trước biến động của thị trường thế giới hay đại dịch COVID-19, khu vực này giữ ổn định các ngành thiết yếu như điện, xăng dầu, thực hiện các chính sách bình ổn giá, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Hình ảnh “sếu đầu đàn” được dùng để chỉ đúng vai trò ấy: đi trước, dẫn dắt cả đàn cùng bay xa, chứ không bay một mình.
Kinh tế tư nhân: Động lực của sức sáng tạo và sự năng động
Nếu kinh tế nhà nước là nền móng và định hướng, thì kinh tế tư nhân là nguồn năng lượng làm cho nền kinh tế chuyển động. Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho khoảng 82% tổng số lao động và là nơi nảy sinh phần lớn các sáng kiến đổi mới sáng tạo. Lợi thế của doanh nghiệp tư nhân đến từ năng lực quản trị, khả năng thích ứng nhanh với thị trường và tinh thần khởi nghiệp.
Nhận thức của Đảng về khu vực này là một quá trình phát triển có kế thừa, dựa trên tổng kết thực tiễn: từ thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân (Đại hội VI), đến xác định là “động lực quan trọng” (Đại hội XII), rồi “một động lực quan trọng nhất” (Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025), tiếp đó được Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (tháng 01/2026) chính thức khẳng định. Đó là sự kế thừa tinh thần chính sách kinh tế mới của Lênin: sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân như “cầu nối” để phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ (1). Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng; sự phát triển của khu vực này góp phần giải phóng sức sản xuất, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
Mối quan hệ bổ trợ, cộng hưởng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân.
Bốn mối liên kết bổ trợ và điều kiện để các mảnh ghép khớp nối
Mối quan hệ giữa hai khu vực không phải là phép cộng cơ học mà là những liên kết hữu cơ, diễn ra hằng ngày trong đời sống kinh tế. Có thể thấy rõ ở bốn nội dung sau:
Thứ nhất, bổ trợ về nền tảng và không gian phát triển. Nhà nước đầu tư hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, xây dựng thể chế và khuôn khổ pháp luật; doanh nghiệp tư nhân khai thác những nền tảng ấy để mở rộng sản xuất, kinh doanh, từ khu công nghiệp, thương mại điện tử đến logistics. Nhà nước càng đầu tư hiệu quả, không gian cho khu vực tư nhân càng rộng.
Thứ hai, bổ trợ về nguồn lực. Doanh nghiệp tư nhân cần vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh; nguồn vốn được huy động và dẫn qua hệ thống tài chính, ngân hàng, trong đó các ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò lớn. Ngược lại, thuế, phí và các khoản đóng góp của khu vực tư nhân là nguồn thu quan trọng của ngân sách, giúp Nhà nước có thêm nguồn lực cho đầu tư công, an sinh xã hội, quốc phòng - an ninh. Đó là một vòng tuần hoàn: Nhà nước tạo nền tảng, tư nhân tạo giá trị, giá trị quay trở lại nuôi dưỡng nền tảng.
Thứ ba, bổ trợ trong chuỗi giá trị. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ở những ngành lớn như năng lượng, dầu khí, viễn thông, giao thông, tài chính cần hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ làm nhà thầu, nhà cung ứng, công nghiệp hỗ trợ; ngược lại, doanh nghiệp tư nhân nhờ kết nối với các đầu tàu quy mô lớn mà có đơn hàng ổn định, cơ hội học hỏi công nghệ và quản trị để vươn ra thị trường ngoài nước. Đây là hướng đi phù hợp với tinh thần của hai nghị quyết, nhằm nâng sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế.
Thứ tư, bổ trợ về đổi mới và hiệu quả. Sự năng động, linh hoạt của khu vực tư nhân tạo áp lực cạnh tranh tích cực, buộc khu vực nhà nước không ngừng đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả. Ngược lại, vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực chiến lược như chuyển đổi số, năng lượng xanh, hạ tầng số, tạo ra những thị trường và cơ hội đầu tư mới mà doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia. Đây là quan hệ “cộng hưởng”, nâng đỡ và thúc đẩy lẫn nhau, chứ không phải “được - mất” của hai bên.
Để mối quan hệ bổ trợ phát huy hiệu quả, cần một số điều kiện. Trước hết là môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch: mọi thành phần kinh tế đều được tiếp cận đất đai, vốn, dữ liệu, cơ hội đầu tư trên cơ sở pháp luật và tiêu chuẩn thị trường. Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu ngay trong năm 2025 cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật, ít nhất 30% điều kiện kinh doanh, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, kiến tạo phát triển. Nghị quyết số 79-NQ/TW yêu cầu doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường, tách bạch nhiệm vụ chính trị với kinh doanh, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Tiếp đến là kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lợi ích nhóm, để dòng nguồn lực đi đúng nơi, đúng đối tượng. Cuối cùng là trách nhiệm của chính mỗi khu vực: doanh nghiệp nhà nước nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sử dụng vốn; doanh nghiệp tư nhân tuân thủ pháp luật, minh bạch tài chính, đổi mới công nghệ và thực hiện trách nhiệm xã hội. Khi mỗi “mảnh ghép” được mài giũa đúng hình, bức tranh chung sẽ khớp và đẹp.
Ngành Ngân hàng - nơi hai mảnh ghép được gặp nhau
Một trong những khớp nối quan trọng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân chính là cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính, trong đó hệ thống ngân hàng giữ vai trò đặc biệt.
Vốn là mạch nguồn của hoạt động kinh tế, hệ thống ngân hàng giữ vai trò trung gian tài chính quan trọng, huy động nguồn lực trong xã hội và phân bổ vốn tín dụng cho đầu tư phát triển, từ các công trình hạ tầng chiến lược, các tập đoàn, tổng công ty đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của hàng triệu doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước vừa là một bộ phận của kinh tế nhà nước, vừa là đối tác tín dụng quan trọng của kinh tế tư nhân. Dòng vốn ấy không phân biệt “nhà nước” hay “tư nhân”, chỉ phân biệt hiệu quả sử dụng và có khả năng tạo ra giá trị cho nền kinh tế.
Hai kỳ tiếp theo sẽ lần lượt làm rõ vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW; kỳ cuối đi sâu vào thực tiễn của VietinBank, một ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò trụ cột, để thấy bằng những con số và hành động cụ thể cách hai “mảnh ghép” kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cùng khớp vào nhau trong đời sống.
Còn nữa...