Khoa học và công nghệ: 'Chìa khóa vàng' để phát triển giàu mạnh, hùng cường

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới.

Động lực chính của tăng trưởng

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây được xác định là hướng đi quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định: Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.

Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” cũng yêu cầu, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.

Đặc biệt, một trong những nhiệm vụ và giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, Kết luận số 18-KL/TW đưa ra đó là, tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 

Theo đó, khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, đầu tư, cơ chế cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược...

Trước đó, tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nêu rõ: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Có thể thấy, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, yêu cầu tăng trưởng nhanh đi đôi với phát triển bền vững đặt ra đòi hỏi phải hình thành các động lực tăng trưởng mới. Vì vậy, việc thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần nâng cao năng lực tự chủ, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia duy trì được tăng trưởng cao đều nhờ dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ vững chắc - Việt Nam không phải ngoại lệ. Do đó, để nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng hai con số một cách bền vững, chúng ta phải dồn tổng lực cho cuộc cách mạng công nghệ trong nước, biến khát vọng thành hành động cụ thể.

"Bứt phá về công nghệ chính là chìa khóa để hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ XXI, đưa dân tộc bước lên tầm cao mới trên trường quốc tế" - TS. Trần Văn Khải nói.

Tạo bứt phá về khoa học, công nghệ

Nhờ đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, năng suất lao động của Việt Nam đã có sự bứt phá trong năm 2025, tăng 6,8% so với năm 2024, cao hơn cao hơn mục tiêu đề ra năm 2025 (5,3-5,4%) và giai đoạn 5 năm 2021-2025 (6,5%).

Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP

Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP

Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 2 khu vực ASEAN về đầu tư vào khởi nghiệp AI (Start-up GenAI); chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu tăng 2 bậc, xếp thứ 55 thế giới; xếp thứ 6/40 quốc gia về chỉ số AI thế giới; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) xếp thứ 44/139 quốc gia, thứ 3 trong khu vực ASEAN.

Cũng chính nhờ đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, nhiều mặt hàng xuất khẩu đã có vị trí cao trong xếp hạng thành tích xuất khẩu của thế giới như: Dệt may, da giày, điện tử, thủy sản, đồ gỗ và một số mặt hàng nông sản khác như cà phê, hồ tiêu, gạo...

Việt Nam cũng vươn lên trở thành một trong những quốc gia với nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao, thuộc vào nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao.

Tại Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đặt ra mục tiêu: Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới.

Bên cạnh đó, số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 - 18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%; hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo.

Quyết định cũng xác định, tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

TS. Trần Văn Khải cho rằng, bên cạnh những thành tựu nội tại, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi chưa từng có để bứt phá về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trước hết là lợi thế hội nhập kinh tế sâu rộng. Mạng lưới FTA dày đặc này mở ra cánh cửa tiếp cận các nguồn lực công nghệ tiên tiến cũng như thị trường rộng lớn cho Việt Nam. Thông qua hợp tác quốc tế, chúng ta có thể nhận chuyển giao tri thức, công nghệ mới, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng với đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/toàn diện với hơn 20 quốc gia, bao gồm hầu hết các cường quốc công nghệ như Mỹ, Nhật, Đức, Australia... Những mối quan hệ chiến lược này tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ, từ trao đổi chuyên gia, du học nghiên cứu đến thu hút đầu tư vào các trung tâm R&D.

Chẳng hạn, các tập đoàn lớn như Samsung, Apple, Intel đã và đang đầu tư xây dựng trung tâm R&D tại Việt Nam, biến nước ta thành cứ điểm nghiên cứu mới trong chuỗi cung ứng của họ​.

Thêm vào đó, quy mô thị trường nội địa 100 triệu dân với tỷ lệ người trẻ cao, nhanh nhạy với công nghệ là động lực quan trọng cho đổi mới. Lực lượng nhân lực STEM của Việt Nam ngày càng lớn mạnh, mỗi năm có hàng chục nghìn kỹ sư công nghệ tốt nghiệp từ các trường đại học trong và ngoài nước.

Các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế cũng đang dành sự quan tâm lớn tới thị trường khởi nghiệp Việt Nam, minh chứng qua dòng vốn startup gia tăng những năm gần đây​... Tất cả những yếu tố trên tạo nên “thiên thời, địa lợi” để Việt Nam tăng tốc trên con đường khoa học, công nghệ. 

Về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ: Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. 

Quỳnh Nga