Xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm gần 10%
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) thông tin, thị trường Hoa Kỳ trong tháng 1/2026 chỉ đạt hơn 96 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm trước.
Sự sụt giảm này tập trung rõ ở nhóm cá ngừ. Đối với tôm xuất khẩu sang Hoa Kỳ, nhiều doanh nghiệp đã chủ động giao hàng sớm trong tháng 1 nhằm giảm rủi ro trước thời điểm công bố kết quả thuế chống bán phá giá (CBPG) vào ngày 17/2. Nhờ đó, kim ngạch tôm sang quốc gia này chưa giảm sâu trong tháng đầu năm, nhưng điều này đồng nghĩa với việc áp lực sẽ dồn sang các tháng tiếp theo.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đánh giá, dù tháng 1 ghi nhận mức tăng trưởng khá tích cực, xuất khẩu thủy sản trong tháng 2/2026 được dự báo sẽ giảm so với tháng 1 và giảm nhẹ so với cùng kỳ do một số yếu tố: Kỳ nghỉ tết Nguyên đán làm gián đoạn sản xuất và giao hàng; tác động rõ hơn từ kết quả thuế CBPG tôm tại Hoa Kỳ sau ngày 17/2; những vướng mắc trong thực thi quy định tại Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) và cấp Giấy chứng nhận khả năng chấp nhận (COA) tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu cá ngừ và các loài hải sản khác; nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc giảm sau khi đã tích trữ mạnh trong tháng 1.
Vì sao thị trường Hoa Kỳ gặp khó?
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, kể từ ngày 1/1/2026 đến nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hải sản khai thác sang thị trường Hoa Kỳ đang gặp không ít khó khăn trong khâu thủ tục. Thực tế ghi nhận cho thấy, một số lô hàng cập cảng quốc gia này nhưng phải nằm chờ, chưa thể thông quan do chưa có COA. Ở trong nước, nhiều doanh nghiệp cũng tạm thời chưa dám xuất hàng, bởi dù đã nộp hồ sơ từ đầu năm, đến nay việc cấp hoặc phê duyệt COA vẫn còn hạn chế, khiến kế hoạch xuất khẩu bị gián đoạn.

Xuất khẩu thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ trong tháng 1/2026 chỉ đạt hơn 96 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ
VASEP ghi nhận phản ánh của doanh nghiệp và tổng hợp từ thực tiễn triển khai, những khó khăn nêu trên chủ yếu phát sinh trong giai đoạn đầu áp dụng thủ tục cấp Giấy COA theo Thông tư 74/2025/TT-BNNMT. Đây là một quy định mới, có phạm vi điều chỉnh rộng và yêu cầu kỹ thuật cao, trong khi hệ thống hướng dẫn chi tiết và cách hiểu thống nhất giữa các khâu thực hiện vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Thực tế cho thấy, ở một số địa phương, việc tiếp nhận và thẩm định hồ sơ COA còn có sự khác nhau trong cách áp dụng quy định, đặc biệt đối với các trường thông tin kỹ thuật, chứng từ nước ngoài và các tình huống phát sinh trong chuỗi cung ứng thực tế. Điều này khiến cùng một loại hồ sơ, nhưng cách xử lý và yêu cầu bổ sung có thể chưa đồng nhất, làm kéo dài thời gian hoàn tất thủ tục.
Bên cạnh đó, do COA là loại giấy tờ mới gắn với yêu cầu quản lý chặt chẽ nguồn gốc khai thác phục vụ thị trường Hoa Kỳ, cả doanh nghiệp và cơ quan thực thi đều cần thêm thời gian để làm quen, rà soát và điều chỉnh quy trình nội bộ cho phù hợp. Trong bối cảnh chưa có hướng dẫn thống nhất ở cấp trung ương cho một số nội dung cụ thể, việc thận trọng trong xử lý hồ sơ là điều dễ hiểu, song cũng vô tình tạo ra áp lực nhất định cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Từ thực tiễn đó, VASEP đã tổng hợp các nhóm vướng mắc tiêu biểu phát sinh trong quá trình làm thủ tục COA, tập trung vào những nội dung có tác động trực tiếp đến tiến độ thông quan và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ chế triển khai theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của sản xuất và xuất khẩu.
VASEP cho biết, một trong những nội dung được phản ánh nhiều là yêu cầu dịch thuật công chứng đối với các chứng từ tiếng nước ngoài, kể cả tiếng Anh như: hóa đơn thương mại, giấy chứng nhận nguồn gốc khai thác (Catch Certificate), giấy chứng nhận của thuyền trưởng (Captain’s Statement)… VASEP cho rằng, việc dịch công chứng toàn bộ bộ hồ sơ (thường dày và nhiều biểu mẫu chuyên ngành) làm tăng đáng kể thời gian và chi phí, trong khi tiếng Anh vốn là ngôn ngữ phổ biến trong thương mại quốc tế.
VASEP kiến nghị cơ quan quản lý xem xét hướng dẫn theo hướng: chấp nhận chứng từ tiếng Anh trong hồ sơ COA mà không bắt buộc dịch, còn với ngôn ngữ khác tiếng Anh thì doanh nghiệp được tự dịch, ký đóng dấu và chịu trách nhiệm, thay vì bắt buộc công chứng.
Báo cáo cũng nêu tình huống một số Captain’s Statement/Catch Certificate theo mẫu thông dụng quốc tế (trong đó có mẫu theo NOAA - Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ) có thể không thể hiện đầy đủ các trường thông tin như yêu cầu trong Thông tư 74/2025/TT-BNNMT, đặc biệt là thông tin ngư cụ khai thác. Với đặc thù chứng từ do thuyền trưởng nước ngoài cấp, doanh nghiệp Việt Nam khó có khả năng yêu cầu bổ sung hoặc phát hành lại, nhất là khi nguyên liệu đã nhập khẩu và đưa vào chế biến.
VASEP đề xuất hướng xử lý hài hòa: chấp nhận mẫu Captain’s Statement hiện hành, đồng thời cho phép cơ quan thẩm định đối chiếu thông tin còn thiếu (như ngư cụ) từ các giấy tờ khác trong bộ hồ sơ (giấy phép khai thác, Catch Certificate…), thay vì yêu cầu “tất cả phải nằm trên một giấy”.
Một điểm kỹ thuật nhưng tác động lớn là mã nghề khai thác: doanh nghiệp khi làm COA phục vụ xuất khẩu sang Hoa Kỳ phải khai theo phân loại mã nghề/fishery ID của phía NMFS/NOAA, nhưng tại một số địa phương lại đối chiếu theo danh mục mã nghề trong quy định trong nước, dẫn đến hồ sơ bị “vênh” và không được tiếp nhận.
VASEP kiến nghị có văn bản hướng dẫn thống nhất: cho phép dùng mã nghề theo NMFS/NOAA khi khai báo COA đi Hoa Kỳ, đồng thời xây dựng nguyên tắc đối chiếu giữa hai hệ mã để cơ quan và doanh nghiệp cùng áp dụng đồng nhất.
Bên cạnh đó, Hiệp hội đề nghị làm rõ cách thẩm định trong các tình huống thực tế như một chuyến biển khai thác đa loài (trong đó có loài đủ điều kiện COA) hoặc giấy phép khai thác ghi nghề chính và nghề phụ.
Theo VASEP, nếu có hướng dẫn rõ theo hướng căn cứ vào loài xin COA và nghề thực tế sử dụng để khai thác sản lượng, việc thẩm định sẽ thuận lợi hơn và hạn chế cách hiểu khác nhau.
Riêng trường hợp mặt hàng ghẹ xanh được khai thác ven bờ, thực tế nguyên liệu chủ yếu đến từ tàu nhỏ dưới 12m, chuyến biển ngắn, hoạt động gần bờ; trong khi số lượng cảng cá ít và xa khu dân cư khiến việc ra/vào cảng không thuận lợi, dẫn tới doanh nghiệp khó thu thập “Giấy bốc dỡ hàng hóa qua cảng” theo yêu cầu hồ sơ COA.
Vì vậy VASEP kiến nghị, cơ quan quản lý cân nhắc cơ chế đặc thù cho chuỗi ghẹ ven bờ, đồng thời tiếp tục trao đổi kỹ thuật với phía Hoa Kỳ (NOAA) để có cách phân loại phù hợp, tạo thêm dư địa chuyển tiếp cho nghề đánh bắt ghẹ bằng bẫy (pot/trap).
Báo cáo cũng tổng hợp nhiều “điểm nghẽn” vận hành ở tuyến thực thi: có địa phương chờ UBND tỉnh ban hành công bố thủ tục hành chính nội bộ nên chưa thụ lý hồ sơ; có nơi yêu cầu doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ ngoài quy định; hay yêu cầu “trừ lùi theo từng tàu” đối với nguyên liệu nhập khẩu – điều rất khó thực hiện khi một container có thể được gom từ nhiều tàu nhỏ lẻ.
Yêu cầu các địa phương đồng bộ cấp COA thủy sản đi Hoa Kỳ
Ngày 30/1/2026 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường tổ chức thực hiện Thông tư 74/2025/TT-BNNMT ngày 26/12/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến nay, việc cấp COA đã được triển khai thực hiện ở một số địa phương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện ở các địa phương chưa đồng bộ, thống nhất, số lượng hồ sơ được tiếp nhận xử lý còn thấp so với nhu cầu.
Do đó, để kịp thời cung cấp giấy tờ cần thiết cho các tổ chức, cá nhân xuất khẩu sản phẩm thủy sản sang Hoa Kỳ không làm gián đoạn, ách tắc hoạt động xuất khẩu và thực hiện đúng quy định tại Thông tư 74/2025/TT-BNNMT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các tỉnh, thành phố quan tâm, chỉ đạo các đơn vị chức năng kịp thời công bố thủ tục hành chính, công khai tại cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; công bố quy trình nội bộ xử lý hồ sơ để kịp thời tiếp nhận, xử lý hồ sơ. Hoàn thành trước ngày 5/2/2026.
Các tỉnh, thành phố tổ chức tiếp nhận hồ sơ theo hình thức trực tiếp và dịch vụ bưu chính công ích (trong thời gian chưa có dịch vụ công trực tuyến); thực hiện đúng quy định về thành phần hồ sơ, hình thức hồ sơ; không yêu cầu thêm các giấy tờ, hồ sơ không cần thiết, không có trong quy định; bố trí đủ nhân sự phù hợp để kịp thời giải quyết hồ sơ theo đúng thời gian quy định.
Các tỉnh, thành phố tiếp tục tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung quy định trong Thông tư 74/2025/TT-BNNMT đến các cơ quan, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản; triển khai các nội dung đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo tại văn bản số 11144/BNNMT-TSKN ngày 31/12/2025.
Tháng 1/2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 874 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2025. Tăng trưởng trong tháng đầu năm chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN và từ nhóm sản phẩm cá tra, mực - bạch tuộc.





