Mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 22/8, Quốc hội đã thảo luận tại Tổ về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.
Ủng hộ việc xây dựng cơ chế đặc thù để hình thành các cực tăng trưởng mới từ kinh tế biển, song đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng đề xuất, do cơ chế càng đặc biệt, quy mô càng lớn thì giới hạn thẩm quyền và cơ chế kiểm soát càng phải được quy định chặt ngay trong Luật.
Cụ thể, về phạm vi áp dụng, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất bổ sung nguyên tắc, tiêu chí và giới hạn cho thẩm quyền của Chính phủ khi quyết định phạm vi áp dụng ngay trong dự thảo Luật. Đồng thời quy định các nguyên tắc về phối hợp liên tỉnh trong bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước và ứng phó biến đổi khí hậu khi triển khai dự án.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng đề xuất, giới hạn thẩm quyền và cơ chế kiểm soát phải được quy định chặt ngay trong Luật.
Về ưu đãi gắn với trách nhiệm, theo đại biểu, Điểm c khoản 8 Điều 35 cấm chuyển nhượng dự án từ 100.000 tỷ đồng trở lên trong 10 năm nhưng điểm a khoản 5 Điều 18a chỉ dẫn chiếu các Điểm a, b và d, bỏ Điểm c và cho chuyển nhượng tới 50% diện tích đã hoàn thành hạ tầng. Đây là thay đổi chính sách lớn, đề nghị làm rõ thời điểm được chuyển nhượng, năng lực bên nhận, việc kế thừa nghĩa vụ về vốn, tiến độ, môi trường và quốc phòng, an ninh.
Về trách nhiệm môi trường và hạ tầng dài hạn. Điều 18a đã bổ sung yêu cầu đánh giá địa chất, thủy văn, hải văn, dòng chảy, bùn cát và hệ sinh thái. Đây là điểm tích cực nhưng trách nhiệm của nhà đầu tư vẫn chỉ là nghĩa vụ hành vi, không có công cụ tài chính nào bảo đảm thực hiện suốt 70 năm, trong khi rủi ro xói lở, sụt lún, sự cố môi trường có thể phát sinh sau nhiều thập kỷ, khi nhà đầu tư ban đầu đã chuyển nhượng một phần dự án.
“Đề nghị quy định nguyên tắc ký quỹ phục hồi môi trường biển, nguồn duy tu chống xói lở và trách nhiệm xử lý tài sản khi dự án kết thúc”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất ý kiến để hoàn thiện dự án Luật.
Đại biểu Phạm Văn Hoà, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp phát biểu, thảo luận cho ý kiến.
Đại biểu Phạm Văn Hoà, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp cho biết, thời gian qua Việt Nam đã có chủ trương phát triển các khu vực lấn biển và một số tỉnh, thành phố đã triển khai trên thực tế. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù và hành lang pháp lý đầy đủ để hoạt động này phát triển bài bản, hiệu quả. Trong khi đó, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á đã thực hiện lấn biển từ nhiều năm trước và đạt hiệu quả cao.
Trong bối cảnh quỹ đất tại các đô thị ngày càng hạn hẹp, nhu cầu mở rộng không gian đô thị, phát triển du lịch, sinh thái và các hoạt động kinh tế ngày càng tăng, đại biểu Phạm Văn Hoà cho rằng khai thác không gian biển để tạo thêm quỹ đất là bước đi phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, việc hoàn thiện các quy định về khu đô thị lấn biển cần được đặt trong tổng thể phát triển đô thị biển của cả nước, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và có thể áp dụng đối với các địa phương có điều kiện tương tự.
Đại biểu Dương Khắc Mai, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cho biết, Việt Nam là quốc gia biển với hơn 3.000 km bờ biển. Chủ trương hướng biển, khai thác tiềm năng, lợi thế biển để tạo nguồn lực phát triển đất nước và các địa phương thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước.
Đại biểu Dương Khắc Mai cho rằng, việc phát triển các khu đô thị lấn biển không đơn thuần nhằm tạo thêm quỹ đất cho phát triển đô thị mà còn góp phần mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển, khai thác hiệu quả hơn nguồn lực biển, hình thành các cực tăng trưởng mới, đồng thời huy động nguồn lực lớn từ khu vực ngoài nhà nước.
Do đó, khi đã luật hóa nội dung này, dự thảo luật cần được thiết kế theo hướng hình thành một khuôn khổ pháp lý chung, ổn định, có khả năng áp dụng lâu dài, thay vì chỉ nhằm giải quyết một dự án hoặc một địa phương cụ thể. “Địa phương nào có điều kiện, có dự án phù hợp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của luật thì phải có cơ sở để tiếp cận và tổ chức thực hiện”, đại biểu nhấn mạnh.
7 nguyên tắc áp dụng đối với khu đô thị lấn biển
Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, qua hơn 50 ý kiến tại tổ và 11 lượt phát biểu tại hội trường, các ý kiến tập trung vào hai vấn đề lớn.
Thứ nhất, các đại biểu cơ bản thống nhất cần có cơ chế để triển khai hoạt động lấn biển xây dựng đô thị, qua đó hình thành những cực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030.
Thứ hai, nhiều đại biểu đặc biệt quan tâm đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển, cũng như quyền và lợi ích của người dân.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình.
Trong quá trình hoàn thiện dự thảo, để đáp ứng các yêu cầu mà đại biểu Quốc hội đặt ra, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo đã thiết kế 7 nguyên tắc áp dụng đối với khu đô thị lấn biển.
Theo đó, dự án phải phù hợp với quy hoạch; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; không cản trở hoạt động hàng hải. Việc quyết định dự án phải dựa trên đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động đến khu vực ven biển và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Các khu đô thị lấn biển phải được phát triển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh; kết nối đồng bộ hạ tầng với đất liền; bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân; triển khai theo từng giai đoạn và gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà đầu tư.
Bộ trưởng cũng cho biết, khu đô thị lấn biển không hình thành đơn vị hành chính mới và phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam cũng như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiêm túc tiếp thu các ý kiến của đại biểu Quốc hội, bảo đảm quy định sau khi được tích hợp vào luật có tính khả thi, đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường biển, quyền lợi của người dân và hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư.