Hải quan khu vực II khai thác dữ liệu để phát hiện dấu hiệu bất thường

Kết nối dữ liệu khai báo, lịch sử tuân thủ cùng hình ảnh soi chiếu giúp Hải quan khu vực II sàng lọc đối tượng rủi ro, tập trung kiểm tra các trường hợp có nguy cơ cao.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, đại diện Đội Kiểm soát hải quan, Chi cục Hải quan khu vực II cho biết, 6 tháng đầu năm 2026, đơn vị đã soi chiếu tổng cộng 9.374 container, qua đó xác định 211 container có dấu hiệu nghi vấn và phát hiện vi phạm tại 12 container.

Cán bộ Chi cục Hải quan khu vực II thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan.

Cán bộ Chi cục Hải quan khu vực II thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan.

Ba con số phản ánh từng khâu của quy trình kiểm soát, từ lựa chọn lô hàng để soi chiếu, phát hiện yếu tố bất thường đến kiểm tra thực tế và xác định hành vi vi phạm. Độ chính xác của quá trình này không chỉ phụ thuộc vào hình ảnh từ máy soi mà còn gắn với thông tin khai báo, đặc điểm lô hàng, tuyến vận chuyển và kết quả phân tích nghiệp vụ.

Theo Phòng Công nghệ thông tin thuộc Chi cục Hải quan khu vực II, đây cũng là một trong những trọng tâm của quá trình ứng dụng công nghệ: tập hợp, phân tích thông tin từ nhiều nguồn để phục vụ quyết định nghiệp vụ, mở rộng khả năng theo dõi và phân bổ nhân lực vào những khâu, đối tượng cần kiểm soát chặt.

Liên kết dữ liệu, nhận diện sớm dấu hiệu bất thường

Hiện, Chi cục Hải quan khu vực II khai thác hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, hệ thống quản lý rủi ro CRMS, các chương trình quản lý, giám sát hải quan cùng kho thông tin nghiệp vụ phục vụ đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Nguồn thông tin còn được bổ sung từ hệ thống quản lý container, seal điện tử, camera, máy soi container, máy soi hành lý và các nền tảng trao đổi thông tin với bộ, ngành, lực lượng chức năng theo quy định.

Trên nền tảng đó, cơ quan hải quan từng bước hình thành hồ sơ rủi ro đối với doanh nghiệp, mặt hàng, tuyến đường và phương thức vận chuyển. Việc tổng hợp nhiều lớp thông tin cho phép cơ quan quản lý khoanh vùng những trường hợp cần lưu ý thay vì dàn trải nguồn lực kiểm tra.

Lịch sử khai báo và mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng. Tần suất vi phạm, biến động kim ngạch, tuyến vận chuyển, đặc điểm hàng hóa cùng các chỉ số nghiệp vụ được đối chiếu để nhận biết những thay đổi không thông thường, làm cơ sở áp dụng biện pháp quản lý phù hợp hoặc đưa vào diện kiểm tra sau thông quan.

Hình ảnh soi chiếu cũng không được xem xét riêng lẻ. Kết quả từ máy soi được đối chiếu với khai báo điện tử và các chỉ số cảnh báo nhằm giúp công chức xác định trường hợp cần kiểm tra thực tế. Nhờ có thêm thông tin về lô hàng, việc đọc ảnh có nhiều căn cứ hơn để đánh giá sự tương thích giữa hàng hóa khai báo và hình ảnh quan sát được.

Bên cạnh đó, phạm vi ứng dụng công nghệ số trong phân tích nghiệp vụ đang tiếp tục được mở rộng. Trong đó có xử lý tập dữ liệu lớn để nhận biết xu hướng, cảnh báo lô hàng có nguy cơ cao, phân tích hình ảnh soi chiếu và tổng hợp thông tin từ nhiều hệ thống.

Công nghệ trong trường hợp này đóng vai trò cung cấp thêm căn cứ cho người thực thi công vụ, thay vì thay thế hoàn toàn khâu đánh giá nghiệp vụ. Hiệu quả của công tác kiểm soát vì vậy phụ thuộc đồng thời vào độ chính xác của thông tin đầu vào, năng lực phân tích và kỹ năng sử dụng hệ thống của công chức hải quan.

Giám sát xuyên suốt, tạo thuận lợi cho dòng hàng hợp pháp

Không chỉ phục vụ khâu lựa chọn đối tượng kiểm tra, công nghệ còn được đưa vào quá trình theo dõi hàng hóa trong thời gian vận chuyển và lưu giữ tại khu vực chịu sự giám sát hải quan.

Camera, hệ thống điện tử, seal định vị trong những trường hợp áp dụng cùng nguồn thông tin trực tuyến cho phép cơ quan chức năng theo dõi hành trình của phương tiện và hàng hóa, đồng thời ghi nhận những dấu hiệu khác thường trong quá trình di chuyển. Việc số hóa các khâu phù hợp cũng góp phần giảm thao tác thủ công và tăng khả năng kiểm soát liên tục.

Theo Đội Kiểm soát hải quan, seal định vị điện tử có thể phát cảnh báo khi phương tiện đi sai lộ trình hoặc xuất hiện dấu hiệu tác động vào seal. Tại cảng, hệ thống giám sát trực tuyến giúp theo dõi hoạt động thực tế, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ công tác kiểm tra và giám sát nội bộ.

Yêu cầu quản lý bằng công nghệ càng rõ nét khi khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn ở mức lớn. Trong 7 tháng năm 2026, Chi cục Hải quan khu vực II đã thực hiện thủ tục đối với lượng hàng hóa có tổng kim ngạch trên 133,7 tỷ USD, tăng 7,98% so với cùng kỳ năm trước.

Quy mô giao dịch lớn đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm kiểm soát, vừa không làm chậm dòng lưu chuyển hàng hóa hợp pháp. Thay vì tăng kiểm tra đồng loạt, việc sàng lọc trên cơ sở thông tin và tập trung nguồn lực vào nhóm có mức độ cảnh báo cao giúp nâng hiệu suất quản lý, đồng thời hạn chế tác động không cần thiết tới doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Có thể nói, quá trình chuyển đổi số thời gian qua đã góp phần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tăng khả năng theo dõi liên tục và sử dụng nhân lực hiệu quả hơn. Giá trị của công nghệ vì thế không nằm ở số lượng hệ thống được triển khai, mà ở khả năng kết nối thông tin và chuyển các nguồn dữ liệu rời rạc thành căn cứ phục vụ quyết định nghiệp vụ.

Với doanh nghiệp, yêu cầu tuân thủ cũng ngày càng gắn chặt với chất lượng thông tin khai báo. Hồ sơ đầy đủ, nội dung nhất quán và việc chấp hành đúng quy định trong suốt quá trình hoạt động không chỉ phục vụ một lần thông quan mà còn hình thành lịch sử tuân thủ để cơ quan hải quan tham chiếu khi đánh giá mức độ rủi ro.

Các nguồn thông tin từ tiếp nhận khai báo, soi chiếu, theo dõi hàng hóa đến kiểm tra sau thông quan đang được liên kết ngày càng chặt chẽ. Số hóa nghiệp vụ giúp ngành hải quan khoanh đúng đối tượng cần kiểm soát, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, đồng thời dành thuận lợi nhiều hơn cho dòng hàng và doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật.

Nguyệt Đức

Có thể bạn quan tâm