Gỡ 'nút thắt' dòng vốn cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh

Nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi xanh và số, nhưng dòng vốn tín dụng vẫn còn nhiều điểm nghẽn về cơ chế, dữ liệu và chia sẻ rủi ro.

Doanh nghiệp “khát vốn” cho đầu tư dài hạn

Chiều 24/4, Báo Đại biểu nhân dân tổ chức Hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh” với sự tham gia của đại biểu Quốc hội, đại diện các bộ, ngành, chuyên gia, tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp.

Hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh”. Ảnh: Đại biểu nhân dân

Hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh”. Ảnh: Đại biểu nhân dân

Phát biểu khai mạc, bà Phạm Thị Thanh Huyền, Tổng Biên tập Báo Đại biểu nhân dân nhấn mạnh, trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là xu thế tất yếu, nông nghiệp Việt Nam cần một dòng vốn đủ lớn, đủ dài hạn và cơ chế phù hợp để thúc đẩy chuyển đổi thực chất. “Tín dụng không chỉ là kênh cung ứng vốn mà còn là công cụ định hướng dòng vốn, góp phần dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững”, bà Huyền nói.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chính sách tín dụng hiện nay vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nông nghiệp số, nông nghiệp xanh. Các tiêu chí xác định dự án xanh còn thiếu thống nhất; cơ chế lãi suất, thời hạn vay chưa gắn với chu kỳ sản xuất; trong khi các công cụ bảo lãnh, bảo hiểm và chia sẻ rủi ro còn hạn chế.

Theo ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, với lợi thế tự nhiên và vị trí địa lý, Việt Nam có điều kiện phát triển đa dạng nông sản và thủy hải sản, từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ nông nghiệp thế giới. Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập sâu rộng, đặc biệt tại các thị trường phát triển, buộc ngành nông nghiệp phải chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững.

Hiện nay, tín dụng nông nghiệp chiếm khoảng 23-25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dù chuyển đổi số đang được triển khai mạnh mẽ, nhưng trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Đáng chú ý, hoạt động tín dụng vẫn chủ yếu vận hành theo mô hình truyền thống, chưa phản ánh đặc thù sản xuất nông nghiệp.

Một trong những điểm nghẽn lớn là sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đặc biệt là bất động sản. Trong khi đó, phần lớn cơ sở sản xuất nông nghiệp lại gắn với đất thuê trả tiền hằng năm, khiến việc định giá và chấp nhận tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn.

Ngoài ra, quy mô tín dụng còn phân tán, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị. Tâm lý e ngại công nghệ của nông dân, hợp tác xã, cùng với hạn chế về kỹ năng số, cũng đang làm chậm tiến trình chuyển đổi.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái dữ liệu phục vụ tín dụng chưa hoàn thiện. Việc thiếu dữ liệu chuẩn hóa, minh bạch và cập nhật liên tục khiến ngân hàng khó thẩm định theo dòng tiền, yếu tố cốt lõi của tín dụng hiện đại.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Long, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nhật Long cho rằng, nông nghiệp hiện nay không còn là lĩnh vực “chi phí thấp”. Để đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, doanh nghiệp phải đầu tư lớn vào hạ tầng, công nghệ, chế biến và truy xuất nguồn gốc, trong khi chu kỳ sản xuất dài, rủi ro cao.

Tuy vậy, việc tiếp cận vốn vẫn gặp nhiều rào cản. Tín dụng còn phân mảnh, chưa theo chuỗi giá trị; phụ thuộc vào tài sản thế chấp; thời hạn vay ngắn chưa phù hợp chu kỳ sản xuất; cơ chế chia sẻ rủi ro còn hạn chế.

“Một thực tế hiện nay là phần lớn đất phục vụ sản xuất nông nghiệp được thuê theo hình thức trả tiền hằng năm, thay vì trả tiền một lần cho 30-50 năm. Điều này gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình thẩm định và quyết định cho vay. Do đó, để tiếp cận vốn, doanh nghiệp thường buộc phải thế chấp bằng các tài sản khác như bất động sản hoặc toàn bộ tài sản có thể định giá. Với các dự án đầu tư quy mô lớn, lên tới hàng trăm tỷ đồng nhưng triển khai trên quỹ đất thuê trả tiền hằng năm, việc được chấp thuận tín dụng càng trở nên khó khăn hơn”, ông Long nhấn mạnh.

Theo ông Long, tín dụng theo chuỗi giá trị là hướng đi tất yếu, không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất mà còn góp phần nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân.

Cần hệ sinh thái tài chính đồng bộ

Ở góc độ ngân hàng, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách Tín dụng Agribank cho rằng, tài chính toàn diện tại khu vực nông thôn vẫn đối mặt nhiều rào cản như hạn chế về hạ tầng, công nghệ, dữ liệu; sự tồn tại của tín dụng phi chính thức; mô hình sản xuất nhỏ lẻ và thiếu liên kết thị trường.

Theo ông, tài chính toàn diện không thể là nhiệm vụ riêng của ngành ngân hàng mà cần sự tham gia đồng bộ của chính quyền, doanh nghiệp và hệ sinh thái số. “Từ câu hỏi ‘làm sao để người dân vay được vốn’, cần chuyển sang ‘làm sao để người dân sử dụng vốn hiệu quả, thoát nghèo và làm giàu bền vững'”, ông Ngọc nhấn mạnh.

Ông Lê Đình Huy, Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Đại biểu nhân dân

Ông Lê Đình Huy, Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Đại biểu nhân dân

Để thúc đẩy nông nghiệp số và nông nghiệp xanh, ông Lê Đình Huy, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Bảo hiểm Agribank cho rằng, chính sách tín dụng cần đặt bảo hiểm vào vị trí “màng lọc” và “bệ đỡ” trong toàn bộ hệ sinh thái tài chính.

Theo đó, với Nhà nước, bảo hiểm giúp giảm gánh nặng ngân sách khi chuyển giao rủi ro từ ngân sách sang thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế. Thay vì chi nguồn lực lớn để cứu trợ sau thiên tai, Nhà nước có thể hỗ trợ phí bảo hiểm, qua đó hình thành cơ chế tài chính bền vững cho nông dân, đồng thời bảo vệ an ninh tài chính khu vực nông thôn, hạn chế nợ xấu phát sinh.

Đối với nông dân, bảo hiểm được ví như “phao cứu sinh”, giúp ổn định dòng tiền, duy trì sản xuất sau rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Khi được bảo vệ, người dân có thể yên tâm đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật, đồng thời tuân thủ các quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn của chuỗi giá trị nông nghiệp xanh, nông nghiệp số.

Với các tổ chức tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp có thể thay thế một phần tài sản thế chấp, trở thành “tài sản bảo đảm bằng niềm tin”. Khi khoản vay được bảo hiểm, ngân hàng có cơ sở để mạnh dạn giải ngân, kể cả với khách hàng thiếu tài sản bảo đảm truyền thống. Đồng thời, quy trình định phí bảo hiểm cũng là căn cứ để đánh giá mức độ minh bạch, chuẩn hóa của hoạt động sản xuất.

Ở góc độ chuỗi giá trị, bảo hiểm đóng vai trò “giảm xóc”, giúp duy trì sản xuất sau biến cố, đảm bảo nguồn cung ổn định cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy nâng cao tiêu chuẩn sản xuất theo hướng bền vững.

Để phát huy vai trò này, các chuyên gia đề xuất cần hoàn thiện khung pháp lý, khuyến khích tích hợp bảo hiểm vào tín dụng nông nghiệp; tăng mức hỗ trợ phí bảo hiểm trong giai đoạn đầu; chuyển tư duy từ “hỗ trợ an sinh” sang “công cụ quản trị rủi ro chuỗi giá trị”. Đồng thời, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu nông nghiệp quốc gia, thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong bảo hiểm và phát triển các sản phẩm bảo hiểm theo chuỗi liên kết.

Việc hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh sẽ khó đạt hiệu quả nếu thiếu vai trò của bảo hiểm. Khi được đặt đúng vị trí, bảo hiểm không chỉ là công cụ tài chính mà còn là “đòn bẩy” quan trọng, góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm