Gỡ 'nút thắt' để doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi cung ứng

Tọa đàm “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Tạo nền tảng cho công nghiệp Việt Nam” được kỳ vọng góp phần nhận diện rõ những điểm nghẽn, đề xuất giải pháp nâng năng lực doanh nghiệp, thúc đẩy nội địa hóa.
Tọa đàm "Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Tạo nền tảng cho công nghiệp Việt Nam" do Báo Công Thương tổ chức vào ngày 6/10.

Tọa đàm "Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Tạo nền tảng cho công nghiệp Việt Nam" do Báo Công Thương tổ chức vào ngày 6/10.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ đang trở thành một trong những yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao năng lực tự chủ của nền công nghiệp, củng cố chuỗi cung ứng trong nước và nâng vị thế doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035, đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực được đặt mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân từ 40 - 45%, đồng thời đưa chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.

Những mục tiêu này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp phải từng bước nâng cấp công nghệ, quản trị, nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu và phát triển cũng như khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của các tập đoàn sản xuất lớn và chuỗi cung ứng quốc tế.

Thực tế, khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực hiện tại vẫn là "bài toán" cần được nhìn nhận thẳng thắn, nhiều doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực và quản trị. Năng lực sản xuất linh kiện, phụ tùng và sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao tại một số lĩnh vực vẫn cần tiếp tục được cải thiện.

Năng lực doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu của chuỗi cung ứng

Chia sẻ tại Tọa đàm "Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Tạo nền tảng cho công nghiệp Việt Nam" do Báo Công Thương tổ chức vào ngày 6/10, ông Chu Việt Cường, đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho rằng, Việt Nam nằm cạnh Trung Quốc - quốc gia có nền công nghiệp hỗ trợ phát triển mạnh. Phần lớn linh kiện, phụ tùng trong các lĩnh vực ô tô, điện tử, cơ khí hiện chịu sức ép cạnh tranh lớn từ hàng Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam thường kéo theo hệ sinh thái nhà cung cấp của họ. Mới chỉ có một số tập đoàn lớn như Samsung, Toyota tăng cường tìm kiếm nhà cung cấp trong nước trước những biến động địa chính trị và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.

Khả năng tiếp cận chính sách của doanh nghiệp trong nước cũng còn hạn chế. Hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp SME trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, với nhu cầu rất lớn về đổi mới công nghệ, nâng cao quản trị và chất lượng nguồn nhân lực, trong khi nguồn lực hỗ trợ chưa tương xứng. Theo khảo sát của Cục Công nghiệp, mới có hơn 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tư máy móc hiện đại, tự động hóa; chưa đến 10% áp dụng robot trong sản xuất.

Ông Chu Việt Cường, đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).

Ông Chu Việt Cường, đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).

 

Một điểm nghẽn khác là nhân lực. Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng nhưng tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn tồn tại. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thiếu nhân lực kỹ thuật, kể cả nhân lực có chất lượng chứ chưa nói tới nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương, giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp còn chưa chặt chẽ; cơ sở dữ liệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa đồng bộ.

Nhìn nhận từ thực tế doanh nghiệp, ông Hoàng Minh Đức, Trưởng Ban Kỹ thuật, Nghiên cứu phát triển, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) cho biết, công nghiệp hỗ trợ hiện là một trong những trụ cột kinh doanh cốt lõi của VEAM, duy trì từ 50 - 56% doanh thu sản xuất công nghiệp.

Năm 2025, doanh thu lĩnh vực này đạt 2.327 tỷ đồng, chiếm 55%; 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1.386 tỷ đồng, chiếm 55%. Trong 9 tháng năm 2026, doanh thu hoạt động công nghiệp hợp nhất đạt 3.757 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, theo ông Đức, doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn từ linh kiện, phụ tùng nhập khẩu giá rẻ, đặc biệt từ Trung Quốc và Ấn Độ.

Ông Hoàng Minh Đức, Trưởng Ban Kỹ thuật, Nghiên cứu phát triển, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM).

Ông Hoàng Minh Đức, Trưởng Ban Kỹ thuật, Nghiên cứu phát triển, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM).

Không chỉ riêng ngành cơ khí, theo ông Chu Việt Cường, Việt Nam hiện phải nhập khẩu khoảng 70 - 80% nguyên liệu trong một số lĩnh vực như thép hợp kim, hóa chất, vải dệt, nhựa kỹ thuật, cao su kỹ thuật. Khi địa chính trị biến động, nguồn cung có thể bị gián đoạn, giá nguyên liệu tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo đảm đơn hàng. Phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu còn đặt doanh nghiệp trước yêu cầu ngày càng khắt khe về quy tắc xuất xứ trong các FTA thế hệ mới và nguy cơ liên quan đến phòng vệ thương mại. Trong khi đó, vật liệu là một trong những công nghệ lõi mà việc tiếp nhận, chuyển giao không dễ dàng.

Điểm nghẽn tiếp theo là thể chế và khả năng tiếp cận chính sách. Với doanh nghiệp nhà nước như VEAM, quy trình đầu tư đổi mới dây chuyền, máy móc có thể mất 12 - 18 tháng, trong khi các tập đoàn đa quốc gia thường dành thời gian chuẩn bị đơn hàng rất ngắn. Nếu không kịp đổi mới thiết bị, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội tham gia chuỗi cung ứng.

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam.

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam.

Ở góc độ hiệp hội, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam cho rằng, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn không hẳn do thiếu chính sách, mà nằm ở khả năng chuyển hóa chính sách thành công cụ hỗ trợ cụ thể, kịp thời và doanh nghiệp có thể tiếp cận. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có bộ phận pháp chế, tài chính hay công nghệ đủ mạnh. Có những chính sách được thiết kế tốt nhưng doanh nghiệp không đủ nguồn lực hoàn thiện hồ sơ, chứng minh điều kiện hoặc theo đuổi thủ tục trong thời gian dài.

Độ trễ thực thi cũng là vấn đề. Với doanh nghiệp sản xuất, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng đôi khi chỉ kéo dài vài tháng. Nếu việc tiếp cận vốn, công nghệ, mặt bằng hoặc thủ tục đầu tư kéo dài, doanh nghiệp có thể mất cơ hội kinh doanh.

Chính sách hỗ trợ cũng cần sát nhu cầu thị trường hơn. Doanh nghiệp không chỉ cần vốn hay những khóa đào tạo chung chung mà cần biết thị trường đang cần linh kiện gì, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, khách hàng yêu cầu năng lực gì và cần đầu tư như thế nào để trở thành nhà cung ứng.

"Cần chuyển từ tư duy “ban hành chính sách hỗ trợ” sang đưa chính sách đến tận doanh nghiệp và đo hiệu quả bằng số doanh nghiệp thực sự được nâng cấp năng lực sản xuất". Bà Hương nêu quan điểm.

Theo bà Hương, doanh nghiệp Việt Nam đã có bước tiến, một số doanh nghiệp tham gia cung ứng linh kiện, cụm linh kiện và dịch vụ kỹ thuật cho các tập đoàn điện tử lớn. Tuy nhiên, phần lớn vẫn tập trung ở công đoạn có rào cản công nghệ và vốn đầu tư thấp. Những khâu tạo giá trị gia tăng cao như thiết kế, R&D, vật liệu chuyên dụng, linh kiện cốt lõi vẫn hạn chế. Do đó, nâng tỷ lệ nội địa hóa không thể chỉ bằng việc yêu cầu doanh nghiệp mua hàng trong nước, mà phải hình thành được các nhà cung ứng có khả năng cạnh tranh về chất lượng, giá thành, công nghệ và độ tin cậy.

Một sức ép khác đang đến rất nhanh từ chuyển đổi xanh. Các chuỗi FDI như Honda, Toyota, Schaeffler ngày càng đặt ra yêu cầu cao về dấu chân carbon và ESG, trong khi Việt Nam còn thiếu hạ tầng kiểm định dùng chung. Doanh nghiệp phải gửi mẫu ra nước ngoài kiểm định, kéo dài thời gian và làm tăng chi phí.

Nâng cấp doanh nghiệp từ công nghệ, vốn đến liên kết chuỗi

Trước những điểm nghẽn trên, yêu cầu đặt ra là chính sách hỗ trợ phải gắn chặt hơn với nhu cầu nâng cấp thực tế của doanh nghiệp trong nước.

Theo ông Chu Việt Cường, trước hết cần phát triển thị trường và cơ chế tài chính, trong đó Cục Công nghiệp đang xây dựng cơ chế cấp bù lãi suất thông qua Luật Công nghiệp trọng điểm, dự kiến ban hành năm 2027.

Cùng với đó là xây dựng chuỗi cung ứng dựa trên doanh nghiệp đầu chuỗi, phát triển các doanh nghiệp dẫn dắt và hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng cấp năng lực để đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi. Nguồn lực cũng cần tập trung cho những ngành có tính lan tỏa cao như cơ khí, tự động hóa, ô tô, điện tử thông minh, dệt may - da giày xanh; lấy giá trị gia tăng nội địa làm thước đo thay vì hỗ trợ dàn trải.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng, phát triển mạng lưới chuyên gia hỗ trợ doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng các trung tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp và phòng lab dùng chung. Thu hút FDI cũng cần gắn với phát triển nhà cung ứng nội địa và chuyển giao công nghệ để doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ.

Để chính sách thực sự tạo lực đẩy cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, bà Đỗ Thị Thúy Hương cho rằng, cần tập trung vào sáu nhóm giải pháp, gồm: phát triển công nghiệp hỗ trợ theo ngành hàng và danh mục sản phẩm ưu tiên; xây dựng cơ chế tài chính dài hạn; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và R&D; gắn thu hút FDI với phát triển nhà cung ứng nội địa; phát triển nhân lực kỹ thuật và quản trị công nghiệp thế hệ mới; nâng cao vai trò của các hiệp hội trong kết nối thị trường và hỗ trợ chính sách.

Trong đó, cơ chế tài chính cần tính tới đặc thù vốn đầu tư ban đầu lớn và thời gian hoàn vốn dài của công nghiệp hỗ trợ. Các công cụ như tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất hoặc đồng tài trợ đầu tư công nghệ có thể giúp doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, giảm áp lực vốn khi nâng cấp sản xuất. Các trung tâm dùng chung về đo kiểm, thử nghiệm, chứng nhận, khuôn mẫu và công nghệ sản xuất cũng cần được phát triển để doanh nghiệp tiếp cận với chi phí phù hợp, thay vì phải đưa sản phẩm ra nước ngoài kiểm thử.

Ở cấp độ doanh nghiệp, chuyển đổi cũng cần có lộ trình. Theo bà Hương, doanh nghiệp không nhất thiết phải đầu tư ngay vào công nghệ lõi mà có thể đi từ chi tiết đơn giản đến cụm linh kiện có độ chính xác cao, sau đó từng bước tham gia thiết kế và cải tiến sản phẩm. Tương tự, chuyển đổi số không đồng nghĩa với việc lập tức đầu tư một nhà máy thông minh hoàn chỉnh. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể bắt đầu từ số hóa dữ liệu sản xuất, quản lý tồn kho, kiểm soát tiêu hao năng lượng, giảm tỷ lệ sản phẩm lỗi và tối ưu máy móc.

Giai đoạn 2022 - 2025, Bộ Công Thương đã phối hợp Samsung Việt Nam tư vấn cho 82 doanh nghiệp và đào tạo 201 chuyên gia tư vấn về nhà máy thông minh. Từ năm 2026, chương trình tiếp tục được triển khai và mở rộng sang mô hình khuôn mẫu thông minh.

Trần Bình Minh

Có thể bạn quan tâm