Hàng loạt chính sách quan trọng tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phát triển đã được ban hành, song việc áp dụng vào thực tiễn sản xuất còn hạn chế. Vấn đề này đã được bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA), Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam làm rõ tại Tọa đàm “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Tạo nền tảng cho công nghiệp Việt Nam” do Báo Công Thương tổ chức vào sáng 6/10.
Cơ hội cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phát triển
Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA), Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.
- Năm 2025, hàng loạt chính sách quan trọng liên quan đến phát triển công nghiệp hỗ trợ, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tư nhân đã được hoàn thiện, trong đó có Nghị định 205/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 111/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, khoảng cách từ chính sách đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp vẫn khá lớn. Theo bà, nguyên nhân của “khoảng trống” này là gì?
Bà Đỗ Thị Thúy Hương: Theo tôi, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn doanh nghiệp hiện nay không hẳn xuất phát từ việc thiếu chính sách, mà chủ yếu nằm ở khả năng chuyển hóa chính sách thành những hỗ trợ cụ thể, kịp thời và doanh nghiệp có thể tiếp cận.
Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân. Đây là nền tảng tích cực, nhưng từ góc độ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn một số điểm nghẽn.
Trước hết là khả năng tiếp cận chính sách. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm đầy đủ các chương trình hỗ trợ, điều kiện thụ hưởng và quy trình thực hiện. Trong khi đó, bộ phận pháp chế, tài chính, công nghệ tại doanh nghiệp nhỏ và vừa thường rất mỏng. Có chính sách được thiết kế tốt nhưng doanh nghiệp không đủ nguồn lực để hoàn thiện hồ sơ hoặc theo đuổi thủ tục trong thời gian dài.
Điểm nghẽn thứ hai là độ trễ trong tổ chức thực hiện. Đối với doanh nghiệp sản xuất, thời gian rất quan trọng. Một cơ hội tham gia chuỗi cung ứng có thể chỉ kéo dài vài tháng, trong khi việc tiếp cận vốn, hỗ trợ công nghệ, mặt bằng hoặc thủ tục đầu tư kéo dài có thể khiến doanh nghiệp mất cơ hội.
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ đôi khi chưa gắn đủ chặt với nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp không chỉ cần vốn hay đào tạo chung chung mà cần biết thị trường cần loại linh kiện nào, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, khách hàng yêu cầu năng lực gì và phải đầu tư như thế nào để trở thành nhà cung ứng.
Một vấn đề khác là năng lực nội tại của doanh nghiệp còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp thiếu vốn dài hạn, công nghệ, nhân lực kỹ thuật và hệ thống quản trị đạt chuẩn. Vì vậy, ngay cả khi có chính sách hỗ trợ, doanh nghiệp cũng chưa chắc đủ khả năng hấp thụ và phát huy hiệu quả nguồn lực.
Theo tôi, cần chuyển mạnh từ tư duy “ban hành chính sách hỗ trợ” sang “tổ chức chính sách đến tận doanh nghiệp và đo lường bằng kết quả nâng cấp năng lực sản xuất”. Hiệu quả không nên chỉ được đánh giá bằng số hội nghị, số doanh nghiệp được tập huấn hay số hồ sơ tiếp nhận, mà cần nhìn vào số doanh nghiệp đạt chứng nhận chất lượng, số nhà cung ứng mới tham gia chuỗi, mức tăng năng suất, tỷ lệ nội địa hóa và giá trị hợp đồng hình thành sau chương trình.
Hàng loạt chính sách quan trọng liên quan đến phát triển công nghiệp hỗ trợ đã được ban hành.
- Theo bà, vì sao doanh nghiệp Việt vẫn chủ yếu tham gia những khâu thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp, trong khi công nghiệp hỗ trợ chưa tạo được năng lực cung ứng nguyên vật liệu và linh kiện có độ chính xác, hàm lượng công nghệ cao?
Bà Đỗ Thị Thúy Hương: Từ thực tiễn ngành điện tử, tôi cho rằng đây là vấn đề có tính cấu trúc, liên quan đồng thời tới năng lực doanh nghiệp, nền tảng công nghiệp, thị trường và cách thức tổ chức liên kết chuỗi cung ứng.
Doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Chúng ta đã hình thành một lực lượng doanh nghiệp tham gia sản xuất linh kiện, chi tiết, cụm linh kiện và dịch vụ kỹ thuật cho các tập đoàn điện tử lớn. Một số doanh nghiệp đã đáp ứng yêu cầu khá khắt khe về chất lượng, độ chính xác, tiến độ giao hàng và quản trị sản xuất.
Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp nội địa vẫn tập trung ở những công đoạn có rào cản công nghệ và vốn đầu tư thấp hơn. Các khâu tạo giá trị gia tăng cao như thiết kế, nghiên cứu phát triển, vật liệu chuyên dụng, linh kiện cốt lõi, thiết bị và công nghệ quy trình vẫn còn hạn chế. Theo tôi, có năm hạn chế cốt lõi.
Thứ nhất, năng lực công nghệ và nghiên cứu phát triển còn yếu. Nhiều doanh nghiệp chủ yếu tiếp nhận công nghệ, thiết bị và quy trình có sẵn, chưa làm chủ thiết kế, công nghệ lõi hoặc khả năng cải tiến sản phẩm. Điều này khiến doanh nghiệp khó chuyển từ gia công theo yêu cầu sang chủ động phát triển sản phẩm và giải pháp.
Thứ hai, quy mô vốn và năng lực tài chính chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư dài hạn. Sản xuất linh kiện chính xác, vật liệu điện tử hay sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao đòi hỏi vốn lớn cho máy móc, phòng sạch, thiết bị đo kiểm, chứng nhận và thử nghiệm. Doanh nghiệp thường phải đầu tư trước nhưng có thể mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới được khách hàng chấp thuận.
Thứ ba là thiếu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, từ kỹ sư thiết kế, kỹ sư quy trình, chuyên gia tự động hóa đến quản trị chất lượng và nhân lực vận hành hệ thống sản xuất thông minh.
Thứ tư, hệ sinh thái công nghiệp thượng nguồn chưa phát triển đồng bộ. Khi vật liệu, hóa chất, luyện kim, linh kiện cơ bản và công nghệ chế tạo trong nước chưa đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp vẫn phải phụ thuộc nhập khẩu, làm tăng chi phí và hạn chế khả năng chủ động.
Thứ năm, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tương xứng. Các tập đoàn toàn cầu có yêu cầu rất cao về chất lượng, chi phí, giao hàng, truy xuất nguồn gốc và quản trị rủi ro. Nếu doanh nghiệp Việt Nam không được hỗ trợ nâng cấp để đáp ứng những tiêu chuẩn đó thì rất khó vượt qua khâu đánh giá nhà cung ứng.
Chúng ta không thể nâng tỷ lệ nội địa hóa chỉ bằng cách yêu cầu doanh nghiệp mua hàng trong nước, mà phải tạo ra những nhà cung ứng đủ sức cạnh tranh về chất lượng, giá thành, công nghệ và độ tin cậy. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải được nhìn nhận là quá trình nâng cấp toàn diện năng lực sản xuất quốc gia.
Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có nhiều cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chủ động nâng cấp, tiến tới làm chủ công nghệ
- Làm thế nào để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam giải đồng thời bài toán bẫy gia công giá trị thấp, áp lực tài chính khi chuyển đổi số - chuyển đổi xanh và các rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thưa bà?
Bà Đỗ Thị Thúy Hương: Ba bài toán này liên hệ chặt chẽ với nhau. Muốn thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp, doanh nghiệp phải nâng cấp công nghệ; muốn nâng cấp công nghệ phải có nguồn lực tài chính; và muốn đầu tư hiệu quả phải đáp ứng nhu cầu, tiêu chuẩn thực tế của khách hàng trong chuỗi cung ứng.
Trước hết, doanh nghiệp cần chuyển từ gia công theo đơn đặt hàng sang nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm. Doanh nghiệp phải xác định rõ vị trí của mình trong chuỗi giá trị và lựa chọn những công đoạn có khả năng nâng cấp. Không nhất thiết phải đầu tư ngay vào công nghệ lõi nhưng cần có lộ trình, từ sản xuất chi tiết đơn giản lên cụm linh kiện, sản phẩm có độ chính xác cao, sau đó từng bước tham gia thiết kế, cải tiến quy trình và phát triển sản phẩm.
Trong ngành điện tử, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ làm chủ khuôn mẫu, công nghệ vật liệu, quy trình kiểm soát chất lượng, tự động hóa và thiết kế cho sản xuất. Đây là những năng lực có thể tạo khác biệt rõ rệt về năng suất và giá trị gia tăng.
Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cũng phải phù hợp với quy mô, năng lực tài chính của doanh nghiệp. Không nên hiểu chuyển đổi số là phải đầu tư ngay một nhà máy thông minh hoàn chỉnh hay chuyển đổi xanh là thay thế đồng loạt toàn bộ dây chuyền. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên bắt đầu từ những khâu có thể đo lường hiệu quả như số hóa dữ liệu sản xuất, quản lý tồn kho, theo dõi chất lượng, kiểm soát tiêu hao năng lượng, giảm tỷ lệ sản phẩm lỗi và tối ưu lịch trình máy móc.
Đối với chuyển đổi xanh, cần ưu tiên tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải, kiểm soát hóa chất, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu và từng bước đo lường phát thải. Đây không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà ngày càng trở thành điều kiện để duy trì tư cách nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần được hỗ trợ về kỹ thuật, tư vấn, tín dụng đầu tư công nghệ và cơ chế chia sẻ chi phí chuyển đổi. Nếu toàn bộ chi phí do doanh nghiệp tự gánh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rất khó theo kịp.
Một giải pháp đặc biệt quan trọng là biến liên kết với doanh nghiệp FDI thành cơ chế nâng cấp nhà cung ứng thực chất. Thay vì chỉ tổ chức gặp gỡ, giới thiệu sản phẩm, cần xây dựng chương trình kết nối dựa trên nhu cầu cụ thể của các tập đoàn đầu chuỗi.
Doanh nghiệp FDI cần công bố rõ hơn danh mục linh kiện, vật liệu, công đoạn có thể nội địa hóa, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình đánh giá nhà cung ứng. Trên cơ sở đó, hiệp hội, cơ quan quản lý và tổ chức hỗ trợ có thể lựa chọn những doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng để đồng hành nâng cấp.
Mục tiêu cuối cùng là doanh nghiệp Việt Nam không chỉ được lựa chọn vì chi phí thấp mà vì năng lực, chất lượng, khả năng cải tiến và giá trị họ tạo ra.
- Xin cảm ơn bà!
Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA), Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Để công nghiệp hỗ trợ phát triển thực chất, cần tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm: xác định rõ ngành hàng, sản phẩm ưu tiên; xây dựng cơ chế tài chính dài hạn; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nghiên cứu - phát triển; gắn thu hút FDI với phát triển nhà cung ứng trong nước; đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và nâng cao vai trò của các hiệp hội trong kết nối thị trường.