Giữ hồn cốt dân tộc giữa lúc tăng tốc phát triển

Ba ngày cuối tháng Tám, hai quyết định về di sản cùng được đưa ra ở hai đầu của một vùng đất. Cả hai đều nghiêm túc, thận trọng, hướng về một đích: giữ lấy hồn cốt dân tộc giữa lúc đất nước đang tăng tốc. Nhưng cách làm mới là điều đáng bàn.

Đạo lý và pháp lý

Sáng 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI biểu quyết thông qua Nghị quyết về cơ chế, chính sách áp dụng cho việc di chuyển di tích trong phạm vi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 427/453 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 85,40%. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 20/9/2026.

Hai ngày trước đó, ngày 22/8, Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội thống nhất chủ trương di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” ra khỏi khuôn viên di tích quốc gia đền Bà Kiệu, phường Hoàn Kiếm, song kèm hai điều kiện chặt chẽ: phải nghiên cứu kỹ để chọn được địa điểm mới tương xứng với giá trị của công trình, sau đó chỉ được thực hiện khi thành phố đã công bố quy hoạch khu vực Hồ Gươm.

Hai sự việc, hai địa bàn, hai cấp thẩm quyền, nhưng đằng sau đó là cùng một câu hỏi mà dân tộc nào bước vào công nghiệp hoá cũng phải trả lời: khi con đường của hôm nay đi ngang qua nơi thờ tự của hôm qua, chúng ta xử sự thế nào cho phải đạo với cả tổ tiên lẫn con cháu; sao cho phù hợp cả đạo lý và pháp lý.

Câu hỏi ấy không mới. Cái mới là lần này chúng ta trả lời bằng một quy trình pháp lý minh bạch, có tranh luận công khai tại nghị trường, tham vấn nhân dân, có cả sự cân nhắc, lắng nghe, điều chỉnh. Đó chính là điều đáng ghi nhận.

Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Thượng tôn pháp luật, trân trọng văn hóa

Pháp luật về di sản văn hoá của nước ta quy định đầy đủ các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, nhưng còn chưa bao trùm đầy đủ hết xung quanh việc di chuyển di tích.

Luật Di sản văn hoá năm 2024 xác lập nguyên tắc bảo vệ di tích ngay tại nơi nó toạ lạc. Khoản 2 Điều 27 quy định: “Khu vực bảo vệ I là vùng có yếu tố gốc cấu thành di tích phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian của các yếu tố gốc cấu thành di tích”.

Khoản 3 cùng điều luật quy định khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I, để bảo vệ cảnh quan văn hoá của di tích. Luật Đất đai năm 2024 tại khoản 6 Điều 60 đặt việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá thành một nguyên tắc bắt buộc trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Song việc bảo tồn gắn với nhiều trường hợp cấp bách, nhiều nhiệm vụ quan trọng gắn với lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia dân tộc.

Chính ở đây, cách xử lý của Chính phủ và Quốc hội thể hiện đúng tinh thần thượng tôn pháp luật. Không có cấp nào tự cho mình quyền quyết định thay cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hồ sơ được nâng lên từng bậc, từ Tờ trình của tỉnh, qua ý kiến các bộ, tới kết luận của lãnh đạo Chính phủ, rồi trình Quốc hội quyết định.

Chuỗi văn bản ấy kéo dài từ Thông báo số 75/TB-VPCP ngày 11/2/2026 tới Công văn số 8115/VPCP-KGVX ngày 13/8/2026. 6 tháng cho hai ngôi đình, trong khi cả dự án đang chạy đua với mốc APEC. Con số đó tự nó đã nói lên Ý thức và sự cẩn trọng.

Di sản là hành trang, là sức mạnh

Trong tác phẩm “Ngày mười tám tháng Sương mù của Louis Bonaparte” viết năm 1852, C. Mác nêu một luận điểm nền tảng: con người tự làm nên lịch sử của mình, nhưng không phải làm trong hoàn cảnh do mình tuỳ ý lựa chọn, mà trong hoàn cảnh đã có sẵn do quá khứ truyền lại. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” năm 1848, C. Mác và Ph. Ăng-ghen mô tả sức mạnh cuốn phăng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với hình ảnh nổi tiếng, rằng mọi cái gì rắn chắc đều tan thành mây khói. Điều đó cho chúng ta suy nghĩ hôm nay: quá khứ vừa là nền để đứng, vừa là thứ luôn bị áp lực phát triển đe doạ xoá đi.

Chủ nghĩa Mác không bao giờ chủ trương đoạn tuyệt với di sản. Trái lại, phép biện chứng của Mác chính là kế thừa có phê phán, lột bỏ lớp vỏ thần bí của triết học Hê-ghen để giữ lấy hạt nhân hợp lý.

V.I. Lênin phát triển tư tưởng ấy thành một nguyên tắc văn hoá rành mạch. Ngay giữa lúc nội chiến, chính quyền Xô viết non trẻ đã ban hành Sắc lệnh của Hội đồng Dân uỷ ngày 12 tháng 4 năm 1918 về các tượng đài của nước Cộng hoà.

Sắc lệnh cho phép tháo dỡ những tượng đài dựng lên để vinh danh Sa hoàng cùng tay sai, nhưng kèm theo một tiêu chí phân biệt rất đáng suy nghĩ: chỉ những công trình không có giá trị lịch sử hay nghệ thuật mới thuộc diện tháo dỡ. Cùng năm ấy, chính quyền Xô viết ban hành các nghị định về cấm xuất khẩu cổ vật quý và về đăng ký, lập hồ sơ, bảo tồn di tích nghệ thuật.

Một cuộc cách mạng long trời lở đất, ngay trong năm đầu tiên, vẫn kịp đặt ra việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản. Bài học ấy còn nguyên giá trị: thay đổi không gian tưởng niệm là việc có thể làm, nhưng phải làm bằng tiêu chí giá trị và bằng hồ sơ khoa học, không bằng cảm tính.

Hà Nội – trái tim của đất nước, nơi lưu giữ bao dấu ấn lịch sử hào hùng, từng bước đi của thời gian đã khắc sâu lên từng con đường, góc phố.

Hà Nội – trái tim của đất nước, nơi lưu giữ bao dấu ấn lịch sử hào hùng, từng bước đi của thời gian đã khắc sâu lên từng con đường, góc phố. 

Ánh sáng từ Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 1946

Ngày 24/11/1946, tại Hà Nội, Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất khai mạc trong bối cảnh vận nước ngàn cân treo sợi tóc, chỉ còn hai mươi bảy ngày nữa là Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Giữa lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu một mệnh đề đã trở thành kim chỉ nam suốt 80 năm: “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”.

Chữ “phải” trong câu nói ấy nặng như một mệnh lệnh. Nó không nói văn hoá là thứ trang sức cho phát triển. Nó không nói văn hoá đi song song với kinh tế. Nó nói văn hoá đi trước, cầm đèn dẫn lối.

Vận vào câu chuyện hôm nay, mệnh đề ấy đặt ra một chuẩn mực rất cao. Một tuyến đường ra sân bay quốc tế, dù cấp bách tới đâu, cũng không được phép coi ngôi đình làng là vật cản. Ngược lại, chính giá trị văn hoá của ngôi đình phải là một trong những dữ kiện được quan tâm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra phương pháp xử lý di sản. Trong tác phẩm “Đời sống mới” viết năm 1947, Người chủ trương giữ gìn những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, sửa đổi những cái xấu, đồng thời học lấy cái hay của nước ngoài. Đó là nguyên tắc kế thừa có chọn lọc, không phải bảo thủ ôm lấy tất cả, cũng không phải phá bỏ sạch trơn.

Nghị quyết số 80-NQ/TW: Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch

Ngày 7/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam. Đây là văn kiện đặt nền cho toàn bộ công tác văn hoá của đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng thời cũng là chiếc chìa khoá để đọc đúng hai câu chuyện đang bàn.

Quan điểm chỉ đạo thứ năm của nghị quyết yêu cầu nhận thức và xử lý hài hoà, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hoá, trong đó nêu đích danh cặp quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, bên cạnh các cặp giữa xây và chống, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế.

Chữ “hài hoà” ở đây là mấu chốt. Bộ Chính trị không đặt bảo tồn đối lập với phát triển, cũng không xếp cái này lên trên cái kia. Bộ Chính trị coi đó là hai mặt của một chỉnh thể mà người cầm quyền có nghĩa vụ xử lý cho khéo.

Nghị quyết còn một câu mà cán bộ làm quy hoạch nên thuộc nằm lòng: “Văn hoá phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao”. Câu ấy đặt ra yêu cầu rằng yếu tố văn hoá không phải thứ đem ra xử lý sau cùng, khi hướng tuyến đã vẽ xong và mặt bằng đã kiểm đếm. Nó phải có mặt ngay từ trang đầu của hồ sơ dự án.

Quan điểm chỉ đạo thứ ba của nghị quyết khẳng định, phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, trong đó Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng. Chính điều này lý giải vì sao yêu cầu tham vấn cộng đồng lại được nhấn mạnh tới vậy trong cả hai nghị quyết của Quốc hội.

Thế giới chung hướng đi

Ngay từ năm 1849, trong chương thứ sáu mang tên “Ngọn đèn Ký ức” của cuốn “Bảy ngọn đèn kiến trúc”, nhà phê bình người Anh John Ruskin đã đưa ra một cảnh báo gay gắt rằng, trùng tu là sự phá huỷ toàn diện nhất mà một công trình có thể phải chịu đựng. Luận điểm nền tảng của ông là kiến trúc cổ không thuộc quyền sở hữu của riêng thế hệ đang sống; nó thuộc về những người đã dựng nên nó và thuộc về các thế hệ sẽ tiếp nối.

Kiến trúc sư người Ý Aldo Rossi, trong cuốn “Kiến trúc của thành phố” xuất bản năm 1966, coi thành phố là ký ức tập thể của cư dân, còn di tích là những yếu tố sơ cấp làm nên cấu trúc hình thái đô thị.

Nhà sử học Pháp Pierre Nora, trong công trình “Những nơi chốn ký ức” xuất bản từ năm 1984 tới năm 1992, chỉ ra rằng, xã hội hiện đại đã đánh mất môi trường ký ức tự nhiên nên buộc phải dựa vào những nơi chốn ký ức cụ thể. Mà nơi chốn ký ức, theo Nora, bao giờ cũng là sự kết hợp của ba yếu tố không tách rời: vật chất, biểu tượng và chức năng, gắn với một địa điểm xác định.

Nhà triết học mác-xít Pháp Henri Lefebvre, trong “Sự sản xuất ra không gian” năm 1974, lập luận, không gian đô thị là một sản phẩm xã hội chất chứa trầm tích của các quan hệ xã hội.

Điểm chung của các học giả cánh tả phương Tây ấy là một cảnh báo: ở các nước tư bản, di sản thường bị xoá đi bởi sức ép của lợi nhuận và địa tô. Chính điểm này làm nổi bật sự khác biệt về bản chất trong trường hợp của chúng ta. Việc di chuyển vừa qua không do một tập đoàn bất động sản nào thúc ép, cũng không nhằm sinh lợi cho ai. Nó phục vụ một công trình hạ tầng quốc gia, được Quốc hội quyết định công khai. Nhà nước bỏ tiền dựng lại đình cho dân bằng vật liệu truyền thống tốt hơn hiện trạng.

Đó là khác biệt giữa một quyết định của quyền lực nhân dân với một quyết định của thị trường.

Thận trọng cũng là một nét văn hóa

UBND tỉnh Bắc Ninh đề nghị cơ chế đặc thù cho ba di tích. Tên dự thảo nghị quyết trình ra ban đầu cũng ghi ba di tích trong phạm vi hai dự án. Nhưng khi biểu quyết, Quốc hội thông qua hai, yêu cầu Chính phủ cần tiếp tục rà soát thực trạng cùng các vấn đề liên quan tới pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời tiếp thu ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Trình bày báo cáo giải trình tiếp thu trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh khẳng định, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nghị quyết, bảo đảm hài hoà giữa bảo tồn di sản văn hoá với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Trong hồ sơ trình Quốc hội có sáu chữ đáng để ghi vào cẩm nang của mọi cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng: dân ở đâu di tích ở đó. Sáu chữ ấy gói được cái cốt lõi mà từ Hiến chương Venice tới các công trình của Nora hay Rossi đều muốn nói: giá trị của một ngôi đình không nằm trong bộ khung gỗ, nó nằm trong quan hệ giữa bộ khung gỗ ấy với cộng đồng thờ phụng.

Theo hồ sơ, vị trí và phương án di chuyển đã được tham vấn cộng đồng, đại diện cộng đồng địa phương đồng thuận và ủng hộ. Khu đất lắp dựng đình vẫn gắn với cộng đồng cũ, lại rộng rãi hơn chỗ cũ..

Điều 3 khoản 4 Nghị quyết số 256/2025/QH15 đã trao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trách nhiệm tuyên truyền vận động Nhân dân đồng thuận, đồng thời giám sát việc thực hiện Dự án. Cơ chế giám sát của nhân dân đối với chính cuộc di dời này đã được luật hoá ngay trong văn bản cho phép di dời. Vấn đề còn lại là làm cho cơ chế ấy sống động, chứ không nằm im trên giấy.

Lâm Vỹ Sơn

Có thể bạn quan tâm