Đẩy mạnh áp dụng công nghệ
Trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản thời gian qua, việc nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ đã góp phần tăng sản lượng than toàn ngành bình quân 9,4%/năm.

Ngành công nghiệp khai khoáng tăng cường đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ảnh: Cấn Dũng
Đặc biệt, trong khai thác hầm lò, mức độ cơ giới hóa và hiện đại hóa được nâng cao thông qua việc ứng dụng các công nghệ mới như: Sử dụng vì chống tiên tiến giá khung, giá xích, giàn chống tự hành; khấu than bằng máy khấu, máy bào; đào lò bằng máy khoan tự hành kết hợp với xúc bốc, máy đào lò liên hợp, các loại vì neo bê tông cốt thép, bê tông phun, neo chất dẻo, neo cáp trong đào và chống giữ đường lò;
Đặc biệt, trong lĩnh vực thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, nhiều công nghệ mới, tiên tiến nhất trong lĩnh vực dầu khí của thế giới đã được áp dụng, đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho ngành. Không những ứng dụng và làm chủ được công nghệ hiện đại trên thế giới, cùng với các đơn vị nghiên cứu, tư vấn có năng lực trong nước, nhiều doanh nghiệp dầu khí Việt Nam đã nghiên cứu, chế tạo và triển khai thành công những công trình mang lại hiệu quả kinh tế và ý nghĩa mang tầm khu vực và thế giới.
Ông Nguyễn Mạnh Chuyền, Phó Trưởng ban Môi trường, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, xác định cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số là khâu đột phá, đến nay, Tập đoàn đã đưa vào vận hành hàng chục hệ thống máy khấu than, giàn chống tự hành, băng tải liên tục có mái che. Nhờ vậy, đã giúp năng suất khai thác hầm lò tăng 10 - 15%, tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng chi phí mỗi năm.
Bên cạnh đó, áp dụng hệ thống điều hành sản xuất tập trung (Dispatching), ứng dụng công nghệ số trong giám sát an toàn hầm lò, quản lý tiêu thụ than và quản trị doanh nghiệp. Một số công ty than còn tiên phong ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát môi trường mỏ, tự động hóa vận hành băng tải và quản lý phương tiện vận tải.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Văn Tư, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ chủ lực của Petrovietnam nhấn mạnh, trong xu hướng chuyển dịch năng lượng, kinh tế carbon thấp, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo đang diễn ra mạnh mẽ, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả.
Làm chủ các công nghệ hiện đại
Tại Quyết định số 2795/QĐ-BCT ban hành chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 nêu rõ định hướng trọng tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển ngành Công Thương.
Trong đó, đối với lĩnh vực công nghiệp khai khoáng - luyện kim, nghiên cứu đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị, ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, carbon thấp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chất thải phát sinh, tăng mức thu hồi các thành phần có ích chính, thu hồi các thành phần có ích đi kèm, sử dụng tổng hợp và tiết kiệm tài nguyên, đảm bảo an toàn môi trường; làm chủ các công nghệ khai thác khoáng sản rắn trong điều kiện địa chất, kỹ thuật mỏ phức tạp.
Xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong khai thác, chế biến khoáng sản nhằm nâng cao hàm lượng công nghệ, hạn chế tổn thất và lãng phí tài nguyên trong khai thác và chế biến khoáng sản, thu hồi tối đa các khoáng sản đi kèm như đồng -vàng, chì - kẽm, cromit - wolfram - coban... tránh làm thất thoát và lãng phí tài nguyên; tăng năng suất lao động, mức độ an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.
Nghiên cứu phát triển công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng đồng bộ, hiệu quả, bền vững đối với các loại tài nguyên khoáng sản có giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược (như đất hiếm, titan, bô-xít...). Phát triển và làm chủ công nghệ chế biến sâu khoáng sản đất hiếm để đạt được sản phẩm là nguyên tố đất hiếm riêng rẽ (REO); công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, thu hồi tối đa các khoáng sản có ích đi kèm, đảm bảo môi trường, an toàn về phóng xạ.
Tập trung đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản titan đồng bộ với các sản phẩm chế biến pigmenit, đioxit titan, zircon cao cấp. Đẩy mạnh nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ trong khai thác, tuyển quặng bô-xít, sản xuất alumin, ưu tiên chuyển giao công nghệ lõi trong điện phân nhôm; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thải, lưu trữ, quản lý, xử lý và tái chế, tái sử dụng bùn đỏ.
Phát triển và đưa vào áp dụng các công nghệ, thiết bị tuyển tiên tiến có năng suất cao, thực thu tối đa các thành phần có ích, tiêu hao điện năng thấp, có khả năng điều khiển, giám sát tập trung; các giải pháp kỹ thuật, công nghệ nâng cao hiệu suất tuyển, tái xử lý thu hồi khoáng có ích trong quặng thải; các công nghệ tuyển, chế biến quặng nghèo, quặng khó tuyển như: quặng apatit loại II, loại IV, quặng thành phần vật chất phức tạp; các loại thuốc tuyển thế hệ mới nâng cao khả năng loại bỏ tạp chất, thân thiện với môi trường.
Nghiên cứu ứng dụng, làm chủ các công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới để thăm dò các bể trầm tích chưa được nghiên cứu chi tiết, các dạng hydrocarbon phi truyền thống (khí than, khí nông, khí đá phiến sét, khí hydrate...), các khu vực nước sâu, xa bờ và phức tạp nhằm bổ sung trữ lượng phục vụ khai thác lâu dài. Gia tăng hệ số thu hồi dầu và duy trì sản lượng giếng khai thác; nâng cao hiệu quả khai thác, thu gom, xử lý, vận chuyển, tàng trữ dầu, giảm tiêu hao năng lượng, vật tư, phụ trợ để giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và bảo vệ môi trường.
Nghiên cứu đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị luyện gang, thép, sắt, làm chủ công nghệ sản xuất các loại thép chế biến chế tạo cơ bản, thép tấm cuộn cán nóng, thép hình, các chủng loại thép hợp kim có tính năng đặc biệt; nghiên cứu làm chủ các công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực luyện đồng, nhôm, kẽm, chì, titan... để sản xuất các sản phẩm kim loại chất lượng phục vụ các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu, giao thông, xây dựng và công nghiệp khác.
Quyết định số 2795/QĐ-BCT cũng nhấn mạnh việc thiết kế, chế tạo nội địa hóa phụ tùng, máy móc, thiết bị phục vụ ngành khai thác, chế biến khoáng sản, luyện kim để thay thế thiết bị nhập khẩu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành sản xuất.
Quyết định số 2795/QĐ-BCT nêu, nghiên cứu thiết kế, chế tạo và đưa vào sử dụng các hệ thống thiết bị toàn bộ; kết cấu thép, chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp; hệ thống thủy lực, van, máy bơm; lò hơi, các loại bình, bồn chứa áp lực cao, chịu ăn mòn; các loại thiết bị nâng hạ, máy móc, thiết bị siêu trường, siêu trọng; thiết bị năng lượng tái tạo (gió, mặt trời,...) và các thiết bị chuyên dụng phục vụ các ngành công nghiệp dầu khí, hóa chất, năng lượng, khai khoáng, chế biến chế tạo, vật liệu, xây dựng, giao thông, xử lý chất thải...




