Doanh nghiệp nhỏ vùng khó khăn chỉ cần được đứng cùng vạch xuất phát

Thảo luận dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chiều 29/10, đại biểu đề nghị luật trao công cụ thực chất cho doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp vùng khó khăn.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, tại Hội trường, đại biểu Lê Hoàng Anh (đoàn Gia Lai) và đại biểu Nguyễn Cao Sơn (đoàn Phú Thọ) cùng góp ý từ thực tiễn doanh nghiệp ở Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, đề xuất sửa cụ thể vào từng điều của dự thảo.

Dữ liệu phải thành tài sản bảo đảm

Thảo luận tại tổ về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Lê Hoàng Anh góp hai nội dung mà Báo cáo số 879 của Bộ Tài chính (cơ quan chủ trì soạn thảo) đã tiếp thu nhưng chưa chọn, hoặc chuyển xuống văn bản dưới luật, trong khi cần quy định ngay trong luật. Theo đại biểu, chính sách phải đến được khu vực tạo ra giá trị gia tăng là doanh nghiệp chế biến, chế tạo, đồng thời phải chạy được cả ở nơi khó khăn nhất.

Đại biểu Lê Hoàng Anh, Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai

Đại biểu Lê Hoàng Anh, Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai

Đại biểu Lê Hoàng Anh cho biết, năm 2025 cả nước xuất khẩu 9 tỷ USD cà phê nhưng chế biến sâu mới khoảng 15%. Cà phê nhân khoảng 5.600 USD/tấn, cà phê chế biến khoảng 9.700 USD/tấn; mỗi tấn xuất thô, "chúng ta để lại ở nước ngoài khoảng 4.000 USD giá trị gia tăng". Riêng Gia Lai, xuất khẩu năm 2025 khoảng 3,44 tỷ USD, trong đó cà phê khoảng 1,5 tỷ USD. "Vùng nguyên liệu đã sẵn, thị trường đã mở. Cái thiếu là doanh nghiệp chế biến", đại biểu nói.

Doanh nghiệp chế biến nhỏ thiếu đúng những thứ dự thảo còn để trống: Đất gắn vùng nguyên liệu, kho lạnh, vốn dài hạn mua máy móc, chi phí chứng nhận, truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu chống phá rừng của thị trường châu Âu. Điều 22 mới hỗ trợ tư vấn, chứng nhận; đất, vốn dài hạn, tài sản bảo đảm thì chưa có công cụ. Theo đại biểu, đề xuất không nhằm ưu ái một ngành mà để sửa một thiên lệch. Cho vay dựa vào tài sản thế chấp lại bất lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ đầu tư dài, tài sản chuyên dùng khó thế chấp. Đây cũng là yêu cầu ưu tiên tín dụng cho đầu tư máy móc, chuỗi cung ứng của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Đại biểu đề nghị bổ sung tối thiểu ba nội dung. Một là, tại Điều 10, khôi phục quy định bố trí quỹ đất cho khu chế biến nông, lâm, thủy sản tập trung gắn với vùng nguyên liệu, kho lạnh, logistics dùng chung, vốn đã có trong Luật năm 2017. Hai là, tại Điều 22, cho vay trên cơ sở hợp đồng liên kết tiêu thụ, khoản phải thu, hàng tồn kho, chứng từ kho hàng; ưu tiên bảo lãnh khoản vay mua máy móc chế biến sâu. Ba là, hợp tác xã đáp ứng tiêu chí quy mô được áp dụng chính sách như doanh nghiệp.

Gắn với đó là mở khóa dữ liệu để cho vay theo dòng tiền. Pháp luật đã cho phép cho vay không có bảo lãnh từ năm 2016, nhưng cho phép đã gần 10 năm mà theo PCI năm 2025 vẫn 93,5% khoản vay đòi thế chấp, vì ngân hàng không nhìn thấy dòng tiền. Dữ liệu doanh thu, dòng tiền đã được tích hợp vào cơ sở dữ liệu doanh nghiệp nhưng mới phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước. Dữ liệu đã có, chỉ thiếu một địa chỉ là ngân hàng và một dòng trong luật.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 8: Cơ quan thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội có trách nhiệm kết nối, cung cấp dữ liệu này cho tổ chức tín dụng qua hệ thống thông tin doanh nghiệp khi doanh nghiệp đồng ý, không thu phí; tổ chức tín dụng vẫn tự chủ thẩm định, quyết định cho vay. Khi đó, một cơ sở chế biến cà phê có ba năm hóa đơn điện tử minh bạch có thể vay vốn mà không cần sổ đỏ. Ở nền kinh tế số, dữ liệu phải trở thành tài sản bảo đảm.

Nội dung thứ hai là chính sách cho địa phương chưa tự cân đối ngân sách. Các chính sách nặng nhất ở Điều 10, Điều 17 đều do ngân sách địa phương bảo đảm, trong khi nơi có nhiều doanh nghiệp cần ưu tiên nhất lại là nơi khả năng chi thấp nhất. Gia Lai dự toán năm 2026 thu ngân sách trên địa bàn khoảng 27.870 tỷ đồng, chi ngân sách địa phương khoảng 45.122 tỷ đồng, phần lớn chênh lệch dựa vào ngân sách Trung ương. Khi luật đã xác định đây là nhiệm vụ của ngân sách địa phương thì nghị định khó có căn cứ đặt nghĩa vụ chi cho ngân sách trung ương.

Đại biểu đề nghị Điều 6 quy định nguyên tắc ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho địa phương chưa tự cân đối; Chính phủ quy định tỷ lệ hỗ trợ theo mức độ tự cân đối. Luật quy định nguyên tắc, nghị định quy định mức, đó là cách phân định đúng thẩm quyền.

Trong cùng nhóm ưu tiên, dự thảo vẫn xét theo hồ sơ hợp lệ nộp trước, khiến doanh nghiệp vùng sâu, vùng xa thua ngay ở vạch xuất phát. Đại biểu đề nghị xét theo tiêu chí công khai; thời điểm nộp hồ sơ chỉ là tiêu chí cuối cùng khi mức độ đáp ứng như nhau.

"Doanh nghiệp nhỏ ở Tây Nguyên, ở Gia Lai không xin được ưu ái hơn, họ chỉ cần được đứng cùng vạch xuất phát", đại biểu nói. Nếu hạt cà phê, hạt tiêu, trái sầu riêng được chế biến ngay tại vùng nguyên liệu, giá trị có thể tăng thêm 70%.

Hỗ trợ sát doanh nghiệp vùng khó

Từ thực tiễn doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cũ, đại biểu Nguyễn Cao Sơn kiến nghị ba vấn đề cho doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và vùng an toàn khu.

Đại biểu Nguyễn Cao Sơn, Đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ

Đại biểu Nguyễn Cao Sơn, Đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ

Thứ nhất, Điều 17 cần bổ sung rõ đối tượng doanh nghiệp tại các xã an toàn khu đã được công nhận nhưng còn bất lợi về hạ tầng, kết nối thị trường. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều xã mới gồm cả khu vực thuộc và không thuộc diện an toàn khu, khiến việc xác định phạm vi áp dụng lúng túng. Đại biểu đề nghị phân biệt tiêu chí công nhận an toàn khu với tiêu chí mức độ khó khăn để hỗ trợ đúng đối tượng, tránh dàn trải; công khai danh mục đối chiếu địa danh, đầu mối xác định đối tượng thụ hưởng.

Thứ hai, tháo gỡ điểm nghẽn trong tiếp cận công nghệ, chuyển đổi số. Với doanh nghiệp nhỏ vùng khó khăn, điểm nghẽn không chỉ là thiếu vốn mua phần mềm, thiết bị mà còn thiếu nhân lực có kỹ năng số, thiếu chuyên gia tư vấn, khó tích hợp dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin. Tại khoản 5 Điều 11, đại biểu đề nghị hợp đồng giải pháp số được ngân sách hỗ trợ phải ghi rõ trách nhiệm bàn giao dữ liệu, tài liệu vận hành, đào tạo người tiếp nhận, công khai chi phí duy trì, điều kiện chuyển dữ liệu sang nhà cung cấp khác; nghiệm thu phải kiểm tra khả năng doanh nghiệp tự sử dụng giải pháp trong công việc thực tế.

Tại khoản 3 Điều 11, đại biểu đề nghị bổ sung chi phí lấy mẫu, vận chuyển, bảo quản mẫu, chuyên gia đến cơ sở để doanh nghiệp vùng xa tiếp cận dịch vụ kỹ thuật; khoản 2 Điều 22 tính cả hoạt động đánh giá giám sát định kỳ để duy trì chứng nhận chất lượng. Chính phủ cần quy định định mức trần chi phí, tiêu chí nghiệm thu, tránh hỗ trợ trùng lặp hoặc phụ thuộc vào một nhà cung cấp.

Thứ ba, cơ chế vốn đối ứng, thanh toán phù hợp với khả năng tài chính. "Một doanh nghiệp có phương án sản xuất tốt chưa chắc đã đủ dòng tiền để ứng trước toàn bộ chi phí rồi chờ hoàn trả hỗ trợ", đại biểu nói. Đại biểu đề nghị Điều 6, Điều 29 cho phép bố trí vốn đối ứng theo tiến độ từng nhiệm vụ; chấp nhận vật tư, công lao động trực tiếp làm phần đối ứng khi được phê duyệt trước, kiểm chứng khi nghiệm thu; nghiên cứu cơ chế tạm ứng có kiểm soát, thanh toán theo sản phẩm từng giai đoạn, thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp. Cơ chế này vừa giảm áp lực huy động vốn cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm kiểm soát được ngân sách.

Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, đánh dấu bước chuyển từ "hỗ trợ" sang "phát triển", hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho trên 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động; dự kiến nếu được Quốc hội thông qua Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2027.

Văn Hoàng

Có thể bạn quan tâm