Hoàn thiện thể chế, môi trường kinh doanh
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nêu rõ các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030. Trong đó, phấn đấu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP.

TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, tỷ trọng xấp xỉ 28% GDP vào năm 2030 đồng nghĩa khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ đóng vai trò xương sống trong cơ cấu kinh tế, tiến gần hơn tới các nước công nghiệp mới. Mục tiêu 28% cũng đòi hỏi bước nhảy vọt về cơ cấu, phản ánh kỳ vọng đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030.
“Mục tiêu này còn tạo sức ép tích cực buộc chúng ta tập trung nguồn lực cho các ngành chế tạo mũi nhọn, ưu tiên phát triển sản xuất công nghệ cao và nâng cao năng suất” - TS. Trần Văn Khải nói.
Theo TS Trần Văn Khải, để công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam thực sự "cất cánh" và phát triển vững chắc, chúng ta cần chuẩn bị đồng bộ nhiều điều kiện về thể chế, nguồn lực và cơ sở hạ tầng.
Phân tích cụ thể, TS. Trần Văn Khải cho rằng, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh là nền tảng tiên quyết. Cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, tháo gỡ rào cản pháp lý, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Việc tạo sân chơi bình đẳng cho khu vực tư nhân và FDI sẽ khuyến khích mọi doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả đầu tư.
"Một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, cùng chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc vào công nghệ cao, thân thiện môi trường sẽ giúp ngành chế tạo phát triển đúng hướng, phù hợp chủ trương của Đảng và Nhà nước" - TS. Trần Văn Khải nhận định.
Bên cạnh đó, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại làm bệ đỡ cho công nghiệp. Chính phủ đã lên kế hoạch đầu tư khoảng 185 tỷ USD (40% GDP) cho các dự án hạ tầng chiến lược giai đoạn 2025-2035 như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, Cảng hàng không Long Thành, Metro tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Điều quan trọng là đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng các công trình này, đồng thời phát triển hạ tầng khu công nghiệp, logistics đồng bộ.
Ngoài hạ tầng giao thông, phải đặc biệt chú trọng hạ tầng năng lượng và chuyển đổi sang năng lượng sạch để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, cung ứng đủ điện cho sản xuất với chi phí cạnh tranh.
Song song đó, hạ tầng số (mạng 5G, dữ liệu) cần được đầu tư mạnh để hỗ trợ chuyển đổi số trong sản xuất. Hạ tầng thông suốt, hiện đại sẽ rút ngắn khoảng cách, giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa “Made in Vietnam”.
Mặt khác, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt cho tăng trưởng dài hạn. Hiện nay, năng suất lao động của ta vẫn thấp hơn nhiều nước ASEAN do hạn chế về kỹ năng và tay nghề. Do đó, Việt Nam phải có chiến lược quốc gia về nhân lực, tập trung vào giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ sư, công nhân lành nghề trong các lĩnh vực STEM, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo… như khuyến nghị của IMF.
Chú trọng đào tạo ngoại ngữ (đặc biệt tiếng Anh) và kỹ năng số cho lao động trẻ để họ sẵn sàng thích ứng với công nghệ mới. Cần tăng cường gắn kết giữa trường học và doanh nghiệp, khuyến khích mô hình “đào tạo kép” để sinh viên kỹ thuật có trải nghiệm thực tiễn. Một lực lượng lao động có kỹ năng cao, kỷ luật và sáng tạo sẽ thu hút các nhà đầu tư công nghệ cao và giúp doanh nghiệp nội địa vươn lên trong chuỗi giá trị.
"Biên giới" tăng trưởng mới cho Việt Nam
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm nâng tầm năng lực sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo.

Thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm nâng tầm năng lực sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo. Ảnh: Q.N
Trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam cần tận dụng chuyển đổi số và công nghệ mới làm đòn bẩy tăng năng suất. Đầu tư cho R&D phải được ưu tiên trong cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân, tập trung vào các ngành mũi nhọn như điện tử, sinh học, vật liệu mới.
Chính phủ cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, hấp thụ và làm chủ các quy trình tiên tiến. Việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… sẽ tạo hệ sinh thái thuận lợi cho nghiên cứu ứng dụng.
Đổi mới sáng tạo cũng đòi hỏi bảo vệ sở hữu trí tuệ hiệu quả và kết nối chặt chẽ giữa viện, trường với doanh nghiệp. "Như IMF nhận định, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ chính là biên giới tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thập kỷ tới. Nếu làm tốt, chúng ta có thể vượt “bẫy thu nhập trung bình” nhờ những bước nhảy vọt về năng suất và giá trị gia tăng" - TS. Trần Văn Khải cho hay.
Cùng với đó, cần phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước để tạo nền tảng bền vững cho ngành chế tạo. Hiện khu vực FDI vẫn đóng vai trò chủ đạo trong xuất khẩu công nghiệp, còn doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi giá trị ở mức thấp.
Để khắc phục, Việt Nam cần chính sách mạnh mẽ thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ - hỗ trợ tín dụng, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhà cung ứng nội địa. Khi doanh nghiệp Việt có thể sản xuất linh kiện, phụ tùng đạt chuẩn, họ sẽ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, qua đó tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Thực tế những năm qua, tỷ lệ nội địa hóa đã cải thiện (ví dụ doanh nghiệp trong nước đóng góp gần 50% giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025). Xu hướng này phải được đẩy nhanh bằng cách hình thành mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp FDI và nội địa, theo định hướng “hợp tác - cạnh tranh lành mạnh”.
Ngoài ra, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng công nghệ, nâng cao quản trị cũng rất quan trọng. Doanh nghiệp trong nước lớn mạnh sẽ đảm bảo cho ngành chế biến, chế tạo phát triển tự chủ, ít lệ thuộc, đồng thời giữ được phần lớn giá trị gia tăng ở lại trong nền kinh tế.
TS. Trần Văn Khải cũng gợi mở, để công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam "cất cánh", phát triển bền vững và bao trùm phải là định hướng xuyên suốt. Công nghiệp chế tạo muốn tiến xa cần gắn với bảo vệ môi trường và phát triển xã hội.
Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào 2050, do đó ngay từ bây giờ ngành sản xuất phải chuyển dần sang công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt. Việc đầu tư công nghệ xử lý chất thải, tuần hoàn nguyên liệu cần được khuyến khích và bắt buộc.
Đồng thời, các doanh nghiệp phải tuân thủ trách nhiệm xã hội, chăm lo đào tạo và phúc lợi cho người lao động để phát triển hài hòa. Chỉ khi tăng trưởng sản xuất song hành với bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh, thì mới duy trì được động lực lâu dài và tránh được những rủi ro trong hội nhập (như rào cản thuế carbon, tiêu chuẩn “xanh” từ các thị trường xuất khẩu).
Tóm lại, từ cải cách thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nhân lực cho đến đổi mới công nghệ, liên kết doanh nghiệp và bảo vệ môi trường, Việt Nam cần một chương trình hành động toàn diện. "Đây chính là những điều kiện “cần và đủ” để ngành chế biến, chế tạo vươn mình mạnh mẽ, trở thành trái tim của nền kinh tế và bảo đảm cho tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững" - TS. Trần Văn Khải bày tỏ.
TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khẳng định, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng vào một kỷ nguyên công nghiệp hóa thành công, đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.




