Lời rao trên trang báo
Số Tiếng Dân ra ngày 20/3/1929 có một mẩu rao nhỏ, đặt giữa những bài thời sự, mang tiêu đề "Cổ phần còn thiếu". Lời rao viết: "Công ty ta thành lập, đã kinh hai kỳ Đại hội đồng mà còn có một số ít ngài chưa góp nữa cổ phần sau", rồi nhắc các cổ đông theo quyết định của Đại hội đồng ngày 24/2/1929 "xin mau mau gởi bạc thiếu về cho Công ty, nếu còn chậm trễ nữa, thì Công ty sẽ giao cho Công chứng (Tòa án) bán đấu giá". Người ký: "Quản lý Huỳnh Thúc Kháng công ty".
Trang nhất một số báo Tiếng Dân.
Ngay bên cạnh là một mẩu rao khác: "Hiện ở Công ty có người khai bán 5 cổ phần, là 100 đồng, ngài nào muốn mua xin gởi thơ cho Công ty biết". Số báo ngày 24/3/1929 in lại cả hai lời rao. Trước đó, số ngày 8/12/1928 nhắc "các ngài cổ đông đã góp đủ bạc hùn xin đến Hội sở, hoặc gởi thơ về mà đòi lấy cổ phiếu".
Những dòng rao tưởng như vụn vặt ấy cho thấy một điều ít người để ý là tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở miền Trung được vận hành như một doanh nghiệp, có cổ đông, có Đại hội đồng, có cổ phiếu, có kỷ luật góp vốn. Người đứng tên quản lý công ty cũng là người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
Tờ báo tự nuôi mình
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tháng 4/1927 cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng các cụ Nguyễn Xương Thái, Trần Đình Phiên, Đào Duy Anh thành lập công ty để tập hợp những người yêu nước góp vốn. Ngày 10/8/1927, Tiếng Dân ra số đầu tiên tại Huế. Hồ sơ lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, được Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước giới thiệu, còn công văn của Công ty Huỳnh Thúc Kháng, tức Báo và Nhà in Tiếng Dân, xin đóng dấu thuế tem đặc biệt cho 12 bản sao cổ phiếu cấp lại cho cổ đông.
Toà soạn báo Tiếng Dân ở Huế.
Báo Tiếng Dân qua các con số.
Mô hình ấy cho Tiếng Dân một thứ hiếm có với báo chí bản xứ thời thuộc địa là tự chủ về tài chính. Bài viết của Báo Vietnamnet khi giới thiệu nhà lưu niệm cụ Huỳnh nhận định Tiếng Dân là "một tờ báo đặc biệt: Hoạt động độc lập, tự chủ về tài chính và kiên định với mục tiêu phản ánh tiếng nói của nhân dân".
Ngay từ đầu, Tiếng Dân xác lập tôn chỉ cải cách, không hùa theo nhà cầm quyền và giữ tiếng nói độc lập. Tự chủ tài chính là điều kiện vật chất để tôn chỉ ấy không thành lời nói suông.
Sai thì sửa, đúng thì đăng
Trụ cột thứ hai của Tiếng Dân là kỷ luật nghề nghiệp. Cụ Huỳnh Thúc Kháng yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh trước khi đăng; nếu có sai sót thì phải sửa, còn những vấn đề đã được kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết công bố.
Tinh thần ấy thể hiện khá đầy đủ những nguyên tắc cốt lõi của quy trình kiểm chứng thông tin trong báo chí hiện đại là điều tra, xác minh trước khi đăng; sai thì đính chính; đã kiểm chứng là đúng thì không lùi bước trước áp lực. Gần một thế kỷ trước, cụ Huỳnh đã đặt hoạt động của tòa soạn trên nền tảng của sự thận trọng, trách nhiệm và bản lĩnh nghề nghiệp.
Nhờ kỷ luật nghề nghiệp ấy, Tiếng Dân tạo dựng được uy tín để lên tiếng về những vấn đề khó và nhạy cảm. Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, các tù chính trị đã bí mật gửi ra ngoài những bài viết tố cáo chế độ tù đày và Tiếng Dân đã đăng tải những nội dung này.
Các tít của tin tức luôn gắn với chữ dân: "Lại bắt dân chịu", "Quan đã thấu nỗi khổ dân chăng?"...
Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939, tờ báo tiếp tục đăng các bài viết của nữ nhà báo, nhà văn Pháp A. Viôlít phê phán chế độ cai trị ở Đông Dương. Ngày 14/9/1936, cụ Huỳnh Thúc Kháng công bố trên Tiếng Dân thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ, phản ánh thực trạng đời sống của nhân dân Trung Kỳ, đồng thời nêu nhiều yêu cầu liên quan đến dân quyền, bầu cử, học vụ, y tế, báo giới, nông dân, lao động, tài chính và kinh tế.
Theo bài viết của Thông tấn xã Việt Nam về dấu ấn Tiếng Dân tại Huế, giá trị của tờ báo còn được thể hiện ở phạm vi những vấn đề được đưa ra bàn luận trên mặt báo, từ đời sống nhân dân, thuế khóa, giáo dục, kinh tế, văn hóa đến cải cách chính trị và quyền lợi của dân chúng. Qua đó, Tiếng Dân không chỉ làm nhiệm vụ thông tin mà còn trở thành một diễn đàn phản ánh đời sống xã hội và những đòi hỏi chính đáng của người dân đương thời.
Những khoảng trắng trên mặt báo
Tiếng Dân hoạt động trong chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo. Trước khi xuất bản, mỗi số báo phải nộp cả bản Quốc ngữ và bản dịch tiếng Pháp cho Phủ Khâm sứ Trung Kỳ kiểm duyệt. Trong một thời gian, học giả Đào Duy Anh là người giúp cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch nội dung báo sang tiếng Pháp.
Trước sự kiểm soát ấy, cụ Huỳnh có cách ứng xử riêng. Có những bài biết trước khó qua được cửa kiểm duyệt, cụ vẫn đưa đi duyệt. Khi một phần nội dung bị cắt bỏ, phần đó được để trắng trên mặt báo, để bạn đọc nhận biết dấu vết của sự can thiệp.
Cách làm ấy cho thấy một nguyên tắc nhất quán của cụ Huỳnh là dù phải hoạt động trong khuôn khổ kiểm duyệt của chính quyền đương thời, Tiếng Dân vẫn cố gắng giữ tiếng nói độc lập của mình. Sự kiểm duyệt từ bên ngoài không vì thế trở thành sự tự kiểm duyệt từ bên trong của người làm báo.
Quan niệm của cụ Huỳnh về giới hạn của ngòi bút được thể hiện rất rõ trong câu: “Vì rằng ta không có quyền tự do nói những điều nên nói, mà ta lại có quyền tự do không nói những cái không nên nói”.
Không được nói điều đúng thì có thể im lặng, nhưng nhất định không nói điều sai. Trong hoàn cảnh mất nước, đó chính là giới hạn cuối cùng để người cầm bút giữ lấy danh dự và nhân cách nghề nghiệp.
Ngày 24/4/1943, thực dân Pháp đình bản Tiếng Dân. Khi ấy, tờ báo đã xuất bản 1.766 số, vượt rất xa mong muốn ban đầu của cụ Huỳnh: “Dầu ra được 5, 7 số mà chết cũng vui lòng”. Từ một tờ báo ra đời trong muôn vàn ràng buộc, Tiếng Dân đã tồn tại suốt gần 16 năm, trở thành một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Ngòi bút giữ Hoàng Sa
Một đóng góp của Tiếng Dân đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử là loạt bài về Hoàng Sa. Từ tháng 7/1938, trước tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử, tức cụ Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam. Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác hải vật của người Việt và đặc biệt là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn.
Bài "Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng" trên báo Tiếng Dân.
Một tờ báo tư nhân dưới chế độ bảo hộ, bằng tư liệu thư tịch, đứng ra khẳng định chủ quyền biển đảo của dân tộc. Đề cương đánh giá việc ấy "thể hiện rõ ý thức bảo vệ chủ quyền và trách nhiệm đối với lãnh thổ quốc gia". Người làm báo yêu nước phản ánh đời sống, đồng thời giữ ký ức và chủ quyền của đất nước bằng chứng cứ trên trang giấy.
Từ Tiếng Dân đến Trường dạy làm báo
Tiếng Dân bị đình bản, nhưng nghề báo của cụ Huỳnh không dừng ở đó. Năm 1939, cụ xuất bản Thi tù tùng thoại, tập hợp thơ, ghi chép và suy ngẫm viết bằng chữ Hán trong thời gian ở Côn Đảo, sau được cụ chép lại và dịch ra tiếng Việt. Đề cương tuyên truyền đánh giá tác phẩm "chứa nhiều tư liệu về xã hội và các phong trào yêu nước, cách mạng đầu thế kỷ XX", có giá trị cả về văn học lẫn lịch sử. Người làm báo ấy đồng thời là người chép sử cho cả một thế hệ chí sĩ.
Đại biểu cắt băng khai trương trưng bày chuyên đề về cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Hai năm sau ngày cụ mất, tên cụ được đặt cho ngôi trường đào tạo người làm báo đầu tiên của cách mạng. Ngày 4/4/1949, Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng được thành lập tại xóm Bờ Rạ, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, nay thuộc xã Đại Phúc, tỉnh Thái Nguyên. Khoá học đầu tiên có 42 học viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Tổng bộ Việt Minh và Đoàn Báo chí kháng chiến lập lớp học ấy, nơi về sau được coi là "cái nôi" của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Địa điểm trường nay là Di tích lịch sử quốc gia.
Đặt tên cụ Huỳnh cho lớp dạy làm báo đầu tiên là một lựa chọn có ý nghĩa. Thế hệ nhà báo kháng chiến bước vào nghề dưới tên của một người làm báo đã giữ trọn khí tiết suốt 16 năm dưới kiểm duyệt thực dân. Ngày 30/9/2026, Tỉnh uỷ Thái Nguyên phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề "Huỳnh Thúc Kháng, từ Báo Tiếng Dân đến Trường dạy làm báo", nối hai mốc ấy thành một mạch truyền thống.
Di sản cho người làm báo hôm nay
Tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 150 năm Ngày sinh nhà báo Huỳnh Thúc Kháng, đồng chí Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, nhấn mạnh: "Điều có ý nghĩa đối với chúng ta hôm nay là ở cụ Huỳnh Thúc Kháng luôn có sự thống nhất giữa nhân cách của người trí thức, trách nhiệm của người công dân và trách nhiệm của người làm báo. Chính sự thống nhất đó làm nên giá trị bền vững của di sản Huỳnh Thúc Kháng đối với lịch sử báo chí Việt Nam".
Di sản ấy đang được tiếp nối bằng những việc cụ thể. Giải Báo chí Huỳnh Thúc Kháng TP. Đà Nẵng lần thứ I (2025-2026) thu hút 284 tác phẩm của 186 tác giả, vinh danh 60 tác phẩm xuất sắc, theo VOV ngày 18/6/2026. Công văn số 476-CV/BTGDV ngày 10/9/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng uỷ Chính phủ yêu cầu tuyên truyền "những đóng góp của Cụ trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, báo chí".
Mẫu tem “Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 2026)” lấy chân dung cụ Huỳnh Thúc Kháng làm hình ảnh chủ đạo, kết hợp không gian kiến trúc truyền thống gợi nhắc những dấu ấn gắn với cuộc đời và quê hương của cụ.
Với người làm báo hôm nay, ba bài học từ Tiếng Dân vẫn còn nguyên giá trị.
Bài học về tự chủ. Tiếng Dân giữ được tiếng nói độc lập vì tờ báo tự nuôi được mình. Cơ quan báo chí hôm nay, trong đó có Báo Công Thương, đang đi trên con đường tự chủ tài chính; tự chủ ấy chỉ có nghĩa khi đồng tiền phục vụ đúng tôn chỉ mục đích chứ không điều khiển ngòi bút.
Bài học về kiểm chứng. "Sai thì sửa, đúng thì đăng" là nguyên tắc sống còn của báo chí trong thời đại tin giả lan nhanh trên mạng xã hội. Uy tín của một tờ báo được xây bằng từng thông tin đã kiểm chứng, mất đi chỉ vì một tin sai không đính chính.
Bài học về khí tiết từ thái độ "đúng nói đúng, sai nói sai" của cụ Huỳnh. Người làm báo có trách nhiệm trước nhân dân, trước sự thật, trước chủ quyền đất nước, như cách cụ đã viết về Hoàng Sa năm 1938.
Tài liệu tham khảo
A. Văn kiện, văn bản
1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn số 06-HD/BTGTW ngày 8/9/2026, kèm Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, trang 1, 5, 6, 9, 10.
2. Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng uỷ Chính phủ, Công văn số 476-CV/BTGDV ngày 10/9/2026.
B. Báo, tư liệu lưu trữ
3. Báo Tiếng Dân, Huế, các số ngày 08/12/1928, 20/3/1929, 24/3/1929.
4. "Tài liệu lưu trữ về cụ Huỳnh Thúc Kháng", archives.org.vn.
C. Báo chí
5. "Vai trò của Huỳnh Thúc Kháng với sự ra đời báo Tiếng Dân", baotanglichsu.vn.
6. "Bên trong nhà cổ của người sáng lập tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở miền Trung", vietnamnet.vn.
7. "Dấu ấn cụ Huỳnh Thúc Kháng và Báo Tiếng Dân giữa lòng Cố đô Huế", chinhsachcuocsong.vnanet.vn.
8. "Hội thảo khoa học và trưng bày chuyên đề kỷ niệm 150 năm Ngày sinh nhà báo Huỳnh Thúc Kháng", nhandan.vn, ngày 30/9/2026.
9. "Đà Nẵng vinh danh 60 tác phẩm báo chí xuất sắc tại Giải Báo chí Huỳnh Thúc Kháng", vov.vn, ngày 18/6/2026.
10. "Những di sản báo chí của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng", vietnamnet.vn, ngày 30/9/2026.