Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tấm gương sáng về người đứng đầu - Bài 3: Cụ Huỳnh với nền kinh tế non trẻ năm 1946

Trong 143 ngày giữ Quyền Chủ tịch nước năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay Chủ tịch Hồ Chí Minh một chùm sắc lệnh giữ ba thứ "sống còn" của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa ra đời: Đồng tiền, nguồn thu và thị trường hàng hoá.

Đồng bạc in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 10/9/1946, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiền trình một sắc lệnh ngắn, chỉ 2 điều. Điều thứ nhất, cho phép phát hành "thứ tiền một đồng bằng nhôm nặng 4 gam 70, đường kính 32 ly 40", mặt trước có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp nghiêng, vòng quanh hình có chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mặt sau có bông lúa và 2 chữ "1 đồng". Dưới Sắc lệnh số 176 ấy là dòng chữ: "Thay mặt Chủ tịch Chính phủ: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Huỳnh Thúc Kháng".

Giấy bạc 5 đồng do Bộ Tài chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát hành năm 1946. Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Nguồn: VietNamNet.

Giấy bạc 5 đồng do Bộ Tài chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát hành năm 1946. Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Nguồn: VietNamNet.

Khi ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Pháp. Từ ngày 31/5 đến ngày 21/10/1946, theo Sắc lệnh số 82 ngày 29/5/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay Người những công văn thường ngày và chủ toạ các phiên họp Hội đồng Chính phủ. Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành kèm Hướng dẫn số 06-HD/BTGTW ngày 8/9/2026 ghi rõ: Trên cương vị Quyền Chủ tịch nước, cụ "tham gia giải quyết nhiều công việc quan trọng, chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, góp phần điều hành bộ máy Nhà nước".

Đồng bạc nhôm là một dấu ấn trong công tác điều hành kinh tế, tài chính thời kỳ ấy. Qua khảo cứu Việt Nam Dân quốc Công báo từ tháng 6 đến tháng 10/1946, chúng tôi lựa chọn 7 sắc lệnh tiêu biểu về kinh tế, tài chính và thương mại do cụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay Chủ tịch nước. Đặt trong bối cảnh đất nước năm 1946, các văn bản này cho thấy những ưu tiên của chính quyền cách mạng: “Giữ tiền, giữ vàng, giữ nguồn thu, giữ thị trường”.

Bảy sắc lệnh kinh tế do Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ký năm 1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo các số 27/7, 14/9, 21/9, 05/10 và 26/10/1946.

Bảy sắc lệnh kinh tế do Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ký năm 1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo các số 27/7, 14/9, 21/9, 05/10 và 26/10/1946.

Từ thương cục Hội An đến bàn ký Bắc Bộ phủ

Chữ ký trên những sắc lệnh kinh tế ấy là của một người đã nghĩ về kinh tế từ 40 năm trước. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng, khai trí phải gắn với chấn hưng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Vì vậy, Cụ không chỉ đề cao giáo dục mà còn chú trọng phát triển thương nghiệp, thực nghiệp, khuyến khích sản xuất và nâng cao dân sinh.

Chính cụ ghi lại những ngày Duy Tân ở Quảng Nam: "Tôi cùng các thân hào bằng hữu đề xướng chung vốn lập thương cục tại phố (Faifoo, Hội An) cùng lập trường học, hội nông, trồng quế...". Thương cục là hội buôn do người Việt góp vốn lập nên. Cùng với mở trường dạy chữ Quốc ngữ, lập hội buôn là một trong những việc làm nên nét riêng của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam.

Tượng chân dung Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng tại Nhà lưu niệm ở xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông

Tượng chân dung Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng tại Nhà lưu niệm ở xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông

Tôn chỉ "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" đặt dân sinh ngang với dân trí. Năm 1908, bị thực dân bắt và tra hỏi ở nhà lao Hội An, cụ Huỳnh Thúc Kháng khẳng định mục đích các buổi diễn thuyết của mình là "khai trí, phát triển kinh tế, cải cách giáo dục và cổ vũ dân quyền, không phải kích động bạo loạn".

Người Duy Tân đầu thế kỷ XX lập thương cục để dân Việt tự buôn bán. Quyền Chủ tịch nước năm 1946 ký sắc lệnh để nước Việt tự giữ đồng tiền. Hai việc cách nhau 40 năm, cùng chung một ý: Độc lập phải có chỗ dựa kinh tế.

Giữ đồng tiền, giữ vàng bạc

Mùa thu năm 1946, giấy bạc Đông Dương vẫn lưu hành song song với giấy bạc Việt Nam, như được đề cập trong Sắc lệnh số 173 dưới đây. Trong bối cảnh ấy, bảo vệ đồng tiền Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng nhằm củng cố nền tài chính độc lập và quyền tự chủ về kinh tế của chính quyền cách mạng.

Sắc lệnh số 173 ngày 4/9/1946 mở đầu bằng một câu nói rõ mục đích: “Để chấn hưng nền tài chính quốc gia và gây căn bản vững vàng cho tiền tệ trong nước, các số thuế trực thu, gián thu, các số tiền nợ phải nộp có thể nộp bằng các thứ tiền tệ sau này: giấy bạc Việt Nam, giấy bạc Đông Dương, vàng, bạc”. Giấy bạc Việt Nam đứng đầu danh mục. Vàng, bạc nộp thay giấy bạc phải là vàng, bạc nguyên chất, thu theo giá chính thức.

Sáu ngày sau, Sắc lệnh số 176 cho ra đời đồng một đồng bằng nhôm in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lúc giấy bạc của đối phương còn tràn trên thị trường, mỗi đồng tiền mang quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi vào túi người dân là một lần chủ quyền tiền tệ được khẳng định.

Không gian trưng bày đồng tiền tài chính giai đoạn 1946 tới 1949. Nguồn: VietNamNet.

Không gian trưng bày đồng tiền tài chính giai đoạn 1946 tới 1949. Nguồn: VietNamNet.

Ngày 15/10/1946, 6 ngày trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hà Nội, cụ Huỳnh ký Sắc lệnh số 202 quy định việc buôn bán vàng bạc. Theo đó, cấm hẳn việc xuất cảng vàng nếu không được Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép; cấm cả "việc mối lái, tập trung vàng có mục đích lũng đoạn hoặc bán cho người ngoại quốc".

Đồ vàng trang sức mang từ tỉnh này sang tỉnh khác quá một lạng tây, tức 100 gam, phải xin phép Ủy ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố. Với bạc, sắc lệnh cấm mua bán tiền tệ bằng bạc quá giá luật định, cấm mối lái, tập trung bạc để lũng đoạn. Người vi phạm bị phạt tiền "gấp 3 giá số bạc gian lậu hay định gian lậu", phạt tù từ 6 ngày đến 6 tháng; tái phạm có thể bị phạt tù từ hai tháng đến 2 năm.

Sắc lệnh số 202 không cấm người dân giữ vàng hay mua bán vàng trang sức, mà tập trung ngăn chặn việc đưa vàng ra nước ngoài và tích trữ vàng nhằm thao túng thị trường. Cách tiếp cận này cho thấy sự phân định giữa nhu cầu của người dân với những hành vi gây tổn hại đến nền tài chính quốc gia.

Giữ nguồn thu cho kháng chiến, kiến quốc

Trong bối cảnh vừa bảo đảm nguồn lực cho quân đội, vừa thực hiện nhiệm vụ kiến thiết đất nước, chính quyền cách mạng phải giải quyết yêu cầu cấp thiết về nguồn thu. Các sắc lệnh do cụ Huỳnh ký cho thấy chủ trương huy động đóng góp phù hợp với khả năng của từng đối tượng, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương chủ động huy động nguồn lực.

Sắc lệnh số 118 ngày 9/7/1946 nêu lý do bằng một câu: "Xét trong thời kỳ kiến thiết quốc gia, cần phải đánh một thứ đảm phụ đặc biệt vào các ngành vận tải để sung vào ngân sách của bộ Quốc phòng". Đối tượng chịu đảm phụ là các ngành vận tải trong toàn cõi Việt Nam, kể cả hỏa xa, tàu điện. Người đi tàu, đi xe góp một phần nhỏ cho người cầm súng giữ nước.

Sắc lệnh số 122 ngày 16/7/1946 dành cho Nam Bộ, nơi chiến sự đã nổ ra từ tháng 9/1945. Ủy ban hành chính Nam Bộ được phép phát hành tại chỗ một công trái "để lấy tiền dùng trong Nam Bộ", số tiền vay "nhiều nhất là 5 triệu đồng bạc", phát hành dần làm năm kỳ, mỗi kỳ một triệu. Trung ương ở Hà Nội trao cho chính quyền kháng chiến phương Nam quyền tự huy động vốn trong dân. Đó là sự tin cậy giữa Chính phủ với một miền đang trực tiếp đánh giặc.

Giữ thị trường hàng hóa

Ngày 24/9/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng ký Sắc lệnh số 187 tạm thay đổi thuế suất tối thiểu và thuế tổng nội đánh vào các hàng hoá nhập nội Việt Nam. Danh mục trong sắc lệnh là những thứ thiết yếu nhất của đời sống: Lợn sống, gà vịt sống, thịt muối hoặc mắm, thịt chế biến, bột mì, các thứ củ có bột, các thứ đậu đỗ, đường, các thứ dầu, các vị thuốc sống, xăng, dầu hoả, giấy làm bằng máy, diêm. Nhiều dòng trong biểu thuế ghi một chữ: "Miễn".

Ba tuần sau, Sắc lệnh số 198 ngày 15/10/1946 khép chặt cửa với hàng lậu. Sắc lệnh mở rộng diện hàng "phải có giấy biên lai chứng rằng hàng ấy đã nhập nội chính thức từ ngoại quốc vào, hoặc hóa đơn hay bất cứ giấy tờ gì của một hãng chính thức lập ở Đông Dương cấp cho chứng nhận rằng hàng ấy là hàng nội hóa".

Hai đầu chính sách hàng hóa nhập khẩu mùa thu năm 1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 5/10 và 26/10/1946.

Hai đầu chính sách hàng hóa nhập khẩu mùa thu năm 1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 5/10 và 26/10/1946.

Đặt hai sắc lệnh trong mối liên hệ với nhau, có thể thấy sự kết hợp giữa chính sách thuế và kiểm soát lưu thông hàng hóa. Một mặt, giảm thuế nhập khẩu đối với hàng thiết yếu nhằm tăng nguồn cung, góp phần giảm áp lực giá cả và hỗ trợ đời sống người dân. Mặt khác, yêu cầu giấy tờ đối với hàng hóa lưu thông nhằm kiểm soát nguồn gốc, ngăn chặn buôn lậu. Xăng và dầu hỏa xuất hiện trong cả hai danh mục, cho thấy chủ trương tạo thuận lợi cho nhập khẩu đồng thời bảo đảm việc lưu thông các mặt hàng này có căn cứ hợp pháp.

Mọi sắc lệnh đều qua Quốc hội

Một điểm đáng chú ý trong 7 sắc lệnh là có tới 6 văn bản bao gồm các Sắc lệnh số 118, 122, 173, 187, 198 và 202, ghi rõ việc thỏa thuận với Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ, hoặc hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội trước khi ban hành. Chi tiết này cho thấy các quyết sách kinh tế, tài chính được cụ Huỳnh ký trên cơ sở tham vấn, bàn bạc giữa các cơ quan lãnh đạo nhà nước.

Cụ Huỳnh giữ Quyền Chủ tịch nước nhưng không điều hành kinh tế bằng ý chí một người. Những quyết định đánh vào túi tiền người dân, như đặt đảm phụ, vay công trái, quản vàng bạc, đều được đưa ra hỏi Quốc hội. Người từng làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ năm 1926, từng đòi chính quyền thuộc địa phải để cơ quan dân cử có thực quyền, nay đặt chính mình dưới sự giám sát của Quốc hội do dân bầu ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về ngày 21/10/1946. Hai ngày sau, trong Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về, Người nói: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh Quyền Chủ tịch nước, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ". Công việc kiến thiết mà Người nhắc tới có phần đóng góp của những sắc lệnh kinh tế ký trong 143 ngày ấy.

Bài học cho ngành Công Thương hôm nay

80 năm sau, nhiều việc cụ Huỳnh làm năm 1946 vẫn là việc thường ngày của ngành Công Thương và các ngành kinh tế. Quản lý vàng là ví dụ rõ nhất. Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP xác định phạm vi điều chỉnh gồm cả "hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng"; hoạt động sản xuất vàng miếng, mua bán vàng miếng "là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép". Từ Sắc lệnh số 202 đến Nghị định 232, nguyên tắc vẫn là vàng gắn với an ninh tiền tệ quốc gia nên phải quản chặt khâu xuất nhập khẩu và chống vàng hoá nền kinh tế.

Triển lãm sách và tư liệu về cụ Huỳnh Thúc Kháng - Ảnh: chinhphu.vn/NA

Triển lãm sách và tư liệu về cụ Huỳnh Thúc Kháng - Ảnh: chinhphu.vn/NA

Sắc lệnh số 198 về giấy tờ chứng nguồn gốc hàng hoá là tiền thân xa của cuộc đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả mà lực lượng Quản lý thị trường của Bộ Công Thương đang làm hằng ngày. Sắc lệnh số 187 miễn, giảm thuế hàng thiết yếu cho thấy công cụ thuế quan được dùng để giữ giá cả, giữ đời sống, một bài toán điều hành thị trường mà ngành Công Thương phải giải ở mỗi đợt biến động giá xăng dầu, lương thực.

Tại Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng 1/10/2026 ở Đà Nẵng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhắn gửi: "Biến truyền thống thành động lực, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành nguồn lực và biến những quyết tâm phát triển thành những kết quả cụ thể, thiết thực cho nhân dân”. Một ngày trước đó, tại Hội thảo khoa học về cụ Huỳnh, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết đề nghị những bài học từ cuộc đời cụ “phải được đúc kết thành luận cứ, kiến nghị cụ thể, phục vụ hoạch định chính sách”.

Với người làm kinh tế, 7 sắc lệnh năm 1946 cho thấy những nguyên tắc rõ ràng: Giữ chủ quyền tiền tệ là giữ nền độc lập; giảm thuế với hàng hóa thiết yếu, huy động đóng góp ở những đối tượng có khả năng; bảo đảm hàng hóa có nguồn gốc minh bạch. Các quyết định tác động đến túi tiền của người dân cần được tham vấn cơ quan đại diện của nhân dân.

150 năm sau ngày cụ ra đời, đồng bạc nhôm in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện vật bảo tàng. Bài học về giữ đồng tiền, giữ thị trường, giữ lòng dân thì vẫn còn nguyên giá trị. Cụ Huỳnh để lại cho ngành kinh tế một nếp làm việc là yêu nước bằng việc cụ thể, thương dân bằng chính sách đúng.

Tài liệu tham khảo

A. Văn kiện, văn bản

1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn số 06-HD/BTGTW ngày 08/9/2026 về tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, kèm Đề cương tuyên truyền, trang 2, 3, 7, 8, 10, 11.

2. Chính phủ, Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

B. Công báo

3. Việt Nam Dân quốc Công báo ngày 15/6/1946 (Sắc lệnh số 82), 27/7/1946 (Sắc lệnh số 118, 122), 14/9/1946 (Sắc lệnh số 173), 21/9/1946 (Sắc lệnh số 176), 05/10/1946 (Sắc lệnh số 187), 26/10/1946 (Sắc lệnh số 198, 202).

C. Báo chí

4. "Huỳnh Thúc Kháng: Cuộc đời, tư tưởng và hoạt động yêu nước", isp.vass.gov.vn.

5. "Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng", vietnamplus.vn, ngày 01/10/2026.

6. "Bảo tồn, phát huy và lan toả Di sản cụ Huỳnh Thúc Kháng trong đời sống xã hội", dangcongsan.vn, ngày 30/9/2026.

Lâm Vỹ Sơn

Có thể bạn quan tâm