Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập, tự do. Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Khoảng 20h ngày 19/12/1946, quân dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu kháng chiến toàn quốc.
Sau những tuần lễ chiến đấu trong các đô thị, các cơ quan Trung ương lần lượt rời Hà Nội, sơ tán về căn cứ. Đầu năm 1947, Bộ Kinh tế chuyển lên chiến khu Việt Bắc. Bộ trưởng Phan Anh vào An toàn khu Tân Trào, các bộ phận của Bộ bố trí tại nhiều địa điểm ở Vĩnh Yên (nay là Phú Thọ), Bắc Kạn (nay là Thái Nguyên) và vùng căn cứ.
Bộ đội Quân giới vận chuyển máy móc lên Chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệu
Kinh tế kháng chiến lúc bấy giờ đứng trước hai yêu cầu gắn chặt với nhau, một mặt duy trì sản xuất, bảo đảm đời sống và gây dựng sức mạnh; mặt khác ngăn quân Pháp khai thác hầm mỏ, nhà máy, lương thực, thị trường và các nguồn thu trong vùng họ kiểm soát.
Người làm kinh tế gọi cuộc đấu này là "mặt trận kinh tế".
Cuối năm 1948, bốn chữ “Mặt trận Kinh tế” đã trở thành tên một tờ tin của Bộ Kinh tế. Những số Mặt trận Kinh tế còn được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, đặt bên những tài liệu, hồ sơ cùng thời, cho thấy kinh tế khi ấy không chỉ là câu chuyện sản xuất, lưu thông hay bảo đảm đời sống, mà thực sự là một mặt trận. Trên mặt trận không tiếng súng ấy, từng chủ trương về sản xuất, thương nghiệp, tài chính, quản lý hàng hóa và bảo đảm nguồn lực đều hướng tới một mục tiêu chung nhằm củng cố hậu phương, phục vụ kháng chiến và góp phần bảo vệ nền độc lập còn non trẻ.
Phá để địch không dùng được, giữ để mình còn sức sản xuất
Cuối năm 1946, chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" được triển khai nhằm ngăn đối phương sử dụng cầu đường, nhà máy, kho tàng và cơ sở sản xuất. Với tinh thần "tất cả cho kháng chiến", nhân dân, công nhân các địa phương tự tay đốt, phá dỡ nhà cửa, xí nghiệp, hầm mỏ, tổ chức đào hào, đắp ụ, dựng vật cản trên cả đường bộ, đường sông...
Tại Thủ đô Hà Nội, lực lượng bộ đội, tự vệ và nhân dân các khu phố nội thành đã đào hầm hào, đục thông các nhà trong dãy phố, cưa cây, hạ cột điện. Khi chiến sự nổ ra, các chiến lũy được dựng lên trên đường phố bằng những toa xe điện, bao cát, giường ngủ, bàn ghế, đồ đạc để ngăn chặn địch.
Mức độ quyết liệt của chủ trương tiêu thổ được ghi lại khá cụ thể trong một tài liệu tình báo Hoa Kỳ. Báo cáo của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ phát hành tháng 7/1947, sử dụng thông tin thu thập trong tháng 4 và tháng 5 cùng nhận định: Ước tính khoảng 95% mức tàn phá được ghi nhận trong khoảng thời gian này do hoạt động phá hủy chủ động của phía Việt Minh.
Báo cáo đánh giá các đợt ném bom của Pháp còn hạn chế và ít gây thiệt hại cho những mục tiêu chiến lược. Phía Việt Minh chủ động phá đường sắt, nhà máy điện, cơ sở công nghiệp và nhà ở để quân Pháp không thể sử dụng.
Bộ "Lịch sử Việt Nam" (tập 10, trang 228, 229) ghi: "Trong suốt năm 1947, quân Pháp tuy làm chủ được các thành phố và các khu công nghiệp nhưng việc sản xuất tại chỗ gần như tê liệt, không thể sử dụng những cơ sở đó để thực hiện ý đồ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.
Ví dụ: Nhà máy xi măng Hải Phòng trước đây sản xuất 266.000 tấn/năm, năm 1947 chỉ sản xuất được 40.000 tấn. Mỏ than Hòn Gai năm 1947 chỉ khai thác được 26.000 tấn/tháng; trong khi đó, ngay trước kháng chiến, trung bình đạt 145.300 tấn/tháng..."
Nguyên nhân được tóm trong 8 chữ: "Ta phá, địch sửa xong ta lại phá".
Song phá không có nghĩa bỏ hết. Bản tin tình báo Hoa Kỳ còn có chi tiết khác ghi nhận việc thấy các bộ phận của một nhà máy điện được đưa theo đường thủy về phía nam. Nguồn tin báo cáo thu thập cho rằng số thiết bị được tháo khỏi một nhà máy điện đã bị phá ở phía bắc và đang được chuyển về Nhã Nam để phục vụ đài phát thanh dự kiến lắp đặt tại đó.
Nhà máy bị phá nhưng máy móc còn dùng được vẫn được tháo ra, đưa theo đường thủy về nơi khác để lắp lại. Đó không phải phá cho hết, đó là cách mang từng phần của một nền công nghiệp vào chiến khu.
Trên thực tế, cuộc di chuyển diễn ra ở quy mô lớn hơn nhiều. "Lịch sử Việt Nam" (tập 10) ghi lại, riêng cán bộ, công nhân ngành quân giới ở các khu phía bắc Khu V đã vận chuyển hơn 19.000 tấn máy móc và nguyên liệu, lên căn cứ, gần 300 máy tiện được ưu tiên vận chuyển vì đây là thiết bị quan trọng đối với việc chế tạo và sửa chữa vũ khí lúc bấy giờ.
Theo thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hơn 3.200 công nhân tham gia trực tiếp trong những ngày đầu tổng di chuyển, vận chuyển 733 máy có tổng trọng lượng 6.714 tấn. Tổng quãng đường vận chuyển khoảng 7.768 km.
Mặt trận kinh tế và tờ báo giữa chiến khu
Cuối năm 1948, giữa chiến khu xuất hiện tờ tin mang tên "Mặt trận Kinh tế". Từ đây, Bộ Kinh tế có một diễn đàn để bàn những vấn đề trực tiếp của kinh tế thời chiến như sản xuất, lưu thông, tiền tệ, ngoại thương, chống đầu cơ, bài trừ xa xỉ phẩm và tổ chức kế hoạch...
Số 3 ra tháng Giêng và tháng 2/1949 mở đầu bằng bài "Năm 1949 trên mặt trận kinh tế chúng ta phải làm gì đây?" của Thứ trưởng Bộ Kinh tế Bùi Công Trừng. Bài viết đi thẳng vào câu hỏi về đường lối, theo ông xây dựng nền kinh tế độc lập với chủ nghĩa đế quốc vẫn chưa đủ và nêu hướng đi: "kinh tế dân chủ mới", gắn độc lập kinh tế với giải quyết dân sinh và khắc phục những di sản của chế độ phong kiến, thuộc địa.
Từ đường lối, ông chuyển sang cách tổ chức, yêu cầu xây dựng chương trình kinh tế toàn diện, trong đó các kế hoạch thành phần phải phối hợp thành kế hoạch chung, hoạt động của các cơ quan phải ăn khớp với nhau. Nếu các bộ, nha, cục, khu, sở và ngành chỉ làm phần việc riêng, chương trình sẽ thành những nội dung biệt lập.
Cuối năm, trong bài "Cách mạng tháng 8 mở đường cho kinh tế dân chủ mới" đăng số 6 tháng 12/1949, ông đặt hai yêu cầu cạnh nhau: Với tính chất phản đế, cách mạng phải xây dựng nền kinh tế độc lập, thoát khỏi sự chi phối và lũng đoạn của chủ nghĩa đế quốc. Với tính chất dân chủ nhân dân, nền kinh tế phải phục vụ quyền lợi của nhân dân, lấy quyền lợi công nông làm căn bản. Từ đó kết luận, nói đến kinh tế dân chủ mới mà quên căn bản quyền lợi công nông là không hiểu kinh tế dân chủ mới.
Trang nội dung tờ tin Mặt trận Kinh tế số 2, xuất bản tháng Chạp năm 1948.
Cũng trên "Mặt trận Kinh tế" số 4, tháng 3, 4/1949 đăng bài "Bài trừ xa xỉ phẩm", ký V.D.Đ. Bài viết nêu khá đầy đủ cách ngành kinh tế nhìn vấn đề tiêu dùng trong thời chiến.
Tác giả định nghĩa lại khái niệm "xa xỉ phẩm", thời bình đó thường là những món hàng đắt tiền chỉ một bộ phận người giàu sử dụng như phấn sáp Tokalon, nước hoa Rêve d’or, nhẫn kim cương hay vòng ngọc thạch... Sang thời kháng chiến, phạm vi được mở rộng hơn, những thứ không thật cần thiết cho đời sống hằng ngày của đại bộ phận nhân dân hoặc có thể giảm dùng, thay bằng hàng nội hóa đều được xếp vào diện xa xỉ phẩm.
Tiền bỏ ra mua hàng của vùng đối phương kiểm soát có thể quay trở lại phục vụ hoạt động kinh tế và quân sự của họ. Trong khi đó, nguồn lực khan hiếm của vùng kháng chiến cần ưu tiên cho quân dụng, thuốc men và những nhu cầu thiết yếu. Do đó phải hạn chế buôn bán, tàng trữ và lưu hành những mặt hàng bị coi là xa xỉ, phát triển sản phẩm trong nước để thay thế.
Cuối bài, tác giả khẳng định muốn đánh bại đối phương, đấu tranh quân sự và chính trị chưa đủ, kinh tế cũng phải trở thành một mặt trận.
Ngay cạnh bài viết là đoạn ca dao "Không dùng hàng hóa của địch", mượn lời một cô gái nói với người yêu qua chiếc lược sừng:
"Trắng ngà em đánh thon đen,
Mượt mà em chải bấy niên lược sừng.
Yêu anh em nói thưa cùng,
Dùng chi hàng địch then thùng lắm anh".
Cùng số báo này còn đăng bài xã luận "Phá mưu mô giặc Pháp, đánh bại bọn đầu cơ" ký tên B.C.T., nhìn cuộc giằng co kinh tế qua hai trạng thái trái chiều. Một phía là hàng ngoại tràn vào vùng tự do, hút tiền và đẩy giá lên. Phía kia là nông sản, thực phẩm bị thu mua đưa vào vùng quân Pháp kiểm soát.
Đối sách được phân chia cụ thể, theo đó, công an và thuế quan ngăn buôn lậu, tòa án xử đầu cơ, tích trữ, nhân viên ngoại thương và tiếp liệu nắm chính sách giá. Các cơ quan phải tiết kiệm chi tiêu, hạn chế nhập những mặt hàng chưa cần thiết. Xã luận đồng thời phê cán bộ mua sắm mắc "chủ nghĩa bản vị", chỉ lo đủ phần mình bất kể mặt bằng giá chung.

Tháng 10/1949, xã luận "Chuẩn bị Tổng phản công" xác định hai nhiệm vụ của cuộc đấu tranh kinh tế: làm suy giảm nguồn lực của đối phương và bồi dưỡng sức mình.
Một mặt, phải hạn chế phía Pháp khai thác mỏ, đồn điền, nhà máy, nguồn thu và lưu thông đồng Đông Dương; ngăn thực phẩm vào vùng địch và hàng địch vào vùng tự do. Mục tiêu là phá chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".
Mặt khác, phải tăng sản xuất và bảo đảm hậu cần. Nông dân tăng lúa, bông, sắn; công nhân làm than, hóa chất, diêm tiêu và vũ khí; thợ thủ công sản xuất hàng tiêu dùng; lực lượng tiếp tế lo muối, gạo; người làm tài chính tìm cách giữ giá trị đồng tiền..
Ngày 19/12/1949, đúng 3 năm Toàn quốc kháng chiến, số 6 "Mặt trận Kinh tế" đăng bài "19-12-1949 nhìn lại 3 năm kinh tế kháng chiến", ký A.T. Đây có thể được là một trong những bản tin tổng kết sớm của ngành.
Bài viết nhìn thẳng vào xuất phát điểm của nền kinh tế kháng chiến: nông nghiệp lạc hậu, kỹ nghệ yếu, ngân quỹ thiếu thốn, tài chính còn chịu ảnh hưởng của Ngân hàng Đông Dương, bộ máy chuyên môn mang nặng lề lối cũ và hậu quả đói rét chưa khắc phục hết; thừa nhận cán bộ kinh tế còn ít kinh nghiệm, công việc còn nhiều khuyết điểm.
Đồng thời liệt kê hàng loạt sức ép lên nền kinh tế kháng chiến: phong tỏa đường biển và biên giới, kiểm soát các đầu mối giao thông, vùng lúa gạo và hầm mỏ, phá hoại mùa màng, gia súc, đưa hàng công nghiệp vào vùng tự do và sử dụng đồng Đông Dương gây sức ép lên thị trường...
Tác giả thuật lại tính toán của phía Pháp rằng kinh tế kháng chiến có thể bị đánh quỵ trong thời gian ngắn rồi đáp lại bằng câu: "Nhưng chúng tính lầm".
Qua những trang báo, tờ tin của Bộ Kinh tế vừa tuyên truyền, tự phê bình vừa bàn cách tổ chức nền kinh tế thời chiến. Nhiều vấn đề được đặt ra trên những trang báo sau đó tiếp tục được cụ thể hóa trong các chủ trương và chính sách kinh tế.
"Chiến tranh gạo"
Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 17/6/1951 đăng bài "Chiến tranh gạo", kể cuộc giằng co kinh tế ở Bình Trị Thiên qua chuyện bảo vệ mùa màng. Bộ đội gọi đó là "chiến tranh gạo".
Ngày lúa chín cũng là lúc nguy hiểm nhất, bài báo viết: "Ấy là lúc mồ hôi trộn với máu loang trên mặt đồng, giành lấy hạt thóc". Tại Phú Lộc, Thừa Thiên, có những thửa ruộng nằm cách đồn Pháp chỉ vài chục mét, lúa chín nhưng muốn thu hoạch, bộ đội, du kích và người dân phải tổ chức gặt ban đêm.
Bài báo kể cảnh hàng trăm người men qua khu vực lô cốt, tiếp cận những đám lúa vừa chín. Du kích và bộ đội mang súng, lựu đạn cảnh giới để người dân gặt.
Cuộc đấu tranh ròng rã của quân dân Bình Trị Thiên trong vùng địch kiểm soát được bài báo ghi lại đanh thép: "Không sợ chết để khỏi chết. Quyết nhịn đói để khỏi đói".
Một năm sau, trên báo Nhân Dân số ra ngày 13/3/1952, đồng chí Phạm Văn Đồng viết bài "Bàn về kế hoạch sản xuất và tiết kiệm", nêu 4 chính sách cần thi hành để phát triển sản xuất. Ông nhấn mạnh muốn thực hiện được kế hoạch sản xuất và tiết kiệm phải làm cho nhân dân yên tâm, hăng hái sản xuất theo đường lối và phương châm đã vạch.
Hai chữ "yên tâm" giữa những mùa gặt còn bị máy bay bắn phá mang một sức nặng khác, muốn người dân yên tâm sản xuất, trước hết phải giữ được ruộng đồng, mùa màng và cả con đường đưa hạt thóc về nhà.
Hạt gạo còn gắn với thuế, lương và giá cả.
Một bản tin tình báo Hoa Kỳ ngày 22/12/1950 về điều kiện kinh tế tại vùng do Việt Minh kiểm soát ở Bắc Kỳ ghi có nơi mỗi mẫu ruộng cấy lúa (khoảng 3.600 m²) phải đóng 20 kg thóc cùng một khoản 10 kg tính cho hao hụt vận chuyển. Giá gạo tại Thái Nguyên ở mức 200-300 đồng/kg và lý giải mức giá cao bởi gạo phải chuyển từ Liên khu 3 lên.
Lương công chức cũng liên quan đến gạo, Sắc lệnh 81/SL ngày 22/5/1950 quy định bậc lương thấp nhất của công chức bằng giá 35 kg gạo, bậc cao nhất bằng giá 72 kg. Giá dùng để tính là giá gạo tẻ hạng vừa trên thị trường được cơ quan hành chính địa phương công nhận.

Ngày 1/5/1951, Sắc lệnh 13/SL bãi bỏ nhiều khoản đóng góp cũ như thuế điền thổ, thóc công lương, thóc nuôi bộ đội địa phương và mua thóc định giá rồi đặt thuế nông nghiệp thu bằng thóc kể từ vụ thuế năm 1951.
Cùng ngày, Sắc lệnh 14/SL thành lập Sở Kho thóc thuộc Bộ Tài chính để nhận, vận chuyển, bảo quản và cấp phát thóc theo kế hoạch của Chính phủ.
Đồng tiền và lưu thông hàng hóa
Hạt gạo nằm trong nhiều bài toán của nền kinh tế thời chiến và không thể tách khỏi đồng tiền. Bản tin tình báo Hoa Kỳ ngày 22/12/1950 ghi, tại Thái Nguyên, 1 đồng Đông Dương lúc đó đổi được khoảng 30 đồng tiền của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trước đó 2 ngày, một bản tin khác của CIA nhận định lạm phát gia tăng do lượng tiền giấy phát hành để trang trải chiến phí. Các tài liệu phản ánh giằng co kinh tế đã lan sang tiền tệ, biến động tỷ giá tác động trực tiếp tới giá gạo, vải, muối và hoạt động trao đổi giữa các vùng...
Ngày 6/5/1951, Sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đặt hoạt động tiền tệ vào một đầu mối chuyên trách.
Với ngành Công Thương, đồng tiền luôn đi cùng hàng hóa. Một thương nhân mua hàng ở vùng sử dụng đồng Đông Dương rồi đưa sang nơi lưu hành tiền của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tính cả tỷ giá, chi phí vận chuyển, các chốt kiểm soát và quy định trao đổi giữa hai vùng.
Ngày 13/8/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 49/SL quy định nguyên tắc, thể lệ và tổ chức đấu tranh kinh tế với địch.
Điều 2 nêu 4 nguyên tắc:
"Nội thương được tự do, ngoại thương phải quản lý".
"Khuyến khích bán hàng ra, hạn chế mua hàng vào".
"Củng cố giá trị tiền tệ và làm cho tài chính quốc gia được dồi dào".
"Bảo vệ và phát triển sản xuất của ta".
Sắc lệnh giao trách nhiệm thi hành cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
Để đi tới 4 nguyên tắc đó, bộ máy quản lý thương mại đã được tổ chức qua nhiều bước.
Ngày 3/2/1947, Sắc lệnh 13/SL tạm cấm xuất nhập cảng hàng hóa trên toàn quốc cho tới khi có lệnh mới.
Ngày 16/3/1947, Sắc lệnh 29B/SL đặt thể thức căn bản về ngoại thương, xác định Chính phủ trực tiếp điều khiển ngoại thương và lập Ngoại thương Cục trong Bộ Kinh tế.
Ngày 17/11/1950, Sắc lệnh 168/SL thành lập Sở Nội thương.
Ngày 14/5/1951, Sắc lệnh 21/SL đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công Thương. Cùng ngày, Sắc lệnh 22/SL thành lập Sở Mậu dịch, bãi bỏ Cục Ngoại thương và Sở Nội thương.
3 tháng sau, Sắc lệnh 49/SL đặt hoạt động trao đổi giữa vùng tự do và vùng tạm bị chiếm trong hệ nguyên tắc chung.
Những gì xã luận "Mặt trận Kinh tế" năm 1949 từng bàn về hàng hóa, tiền tệ và sản xuất giờ đã có thêm bộ máy cùng công cụ pháp lý để thực hiện.
Phía bên kia chiến tuyến cũng chịu sức ép nặng của cuộc chiến. Báo Nhân Dân ngày 20/11/1952 mô tả giá 1 tạ gạo hạng vừa tại Hà Nội vào tháng 5 và tháng 6 ở mức 500 đồng Đông Dương, tới tháng 10 lên 1.200 đồng. Người dân phải kê khai thóc gạo, hoạt động chuyên chở bị kiểm soát chặ, 1 gánh gạo 25 kg cũng có thể nằm trong diện kiểm tra.
Tiểu thương, tiểu chủ, công chức, công nhân và dân nghèo thành thị mang sổ kiểm soát gia đình tới các điểm bán gạo để mua theo định lượng. Trước khi tới chợ mỗi gánh gạo phải qua nhiều vòng kiểm soát.
Các nhà xưởng lại chịu sức ép theo cách khác. Báo Nhân Dân ngày 1/5/1954 phản ánh công nhân tại vùng tạm bị chiếm phải làm việc từ 10-12 giờ/ngày, có nơi tới 14 giờ, nặng nhọc nhất tại các đồn điền cao su và hầm mỏ. Riêng năm 1953, Sở Lục lộ Hà Nội giãn 500 công nhân, Sở Lục lộ Hải Phòng giãn 3/4 số thợ, Sở Máy cưa Hải Phòng giãn 1/10. Mỗi đợt bắt lính lại kéo theo một đợt giảm thợ, một số xí nghiệp còn bị buộc đưa công nhân vào lực lượng lính thợ.
Tuyến hậu cần đi tới Điện Biên Phủ
Những năm cuối kháng chiến, bài toán hậu cần đã chuyển sang quy mô khác hẳn những ngày đầu tháo từng chiếc máy khỏi nhà xưởng.
Sau Chiến dịch Biên giới năm 1950, quan hệ kinh tế với Trung Quốc mở rộng. "Lịch sử Việt Nam" (tập 11) ghi, năm 1952 Chính phủ Việt Nam ký hiệp định thương mại với Chính phủ Trung Quốc. Ngày 7/4/1952, đại diện hai bên tiếp tục ký nghị định mậu dịch, trong đó quy định cách tính giá hàng Việt Nam xuất khẩu, lấy giá tại Nam Ninh làm cơ sở. Trao đổi hàng hóa qua biên giới từ đây có thêm khuôn khổ để tổ chức và tính giá.
Nguồn vật chất phục vụ kháng chiến cũng tăng lên. Trong "The Communist Road to Power in Vietnam", nhà sử học William J. Duiker ghi mức viện trợ của Trung Quốc cho Việt Minh tăng từ khoảng 10-20 tấn/tháng năm 1951 lên khoảng 1.500 tấn/tháng vào mùa xuân năm 1954. Theo ông, phần lớn lượng hàng này là xăng dầu và đạn dược.
Duiker còn viết rằng có những khẩu pháo lớn từ Liên Xô được chuyển từng bộ phận từ khu vực biên giới Trung Quốc tại Lạng Sơn qua quãng đường hơn 200 dặm.
Năm 1947, máy móc từng được tháo khỏi nhà xưởng để đưa vào căn cứ. 7 năm sau, quy mô và mục đích đã khác hẳn song bài toán vận chuyển vẫn có điểm giống nhau, chia những thiết bị quá nặng thành từng bộ phận để vượt qua những cung đường khó khăn.
Đến Điện Biên Phủ, bài toán hậu cần được đẩy lên quy mô lớn nhất trong 9 năm kháng chiến. Theo Duiker, lực lượng Việt Minh tập trung tại khu vực chiến trường gồm 33 tiểu đoàn chủ lực với khoảng 49.500 chiến sĩ, đi kèm hơn 55.000 lực lượng phục vụ và gần 100.000 dân công vận tải.
Duiker cũng đặt cách tiếp tế của hai bên cạnh nhau. Quân Pháp phải dựa vào đường không, phía Việt Minh dựa vào những đoàn dân công kéo dài trên các đường mòn miền núi. Ông mô tả mỗi người trong những đoàn vận chuyển mang trung bình khoảng 30 pound lương thực (tương đương 13,6 kg) và đi khoảng 10 dặm (hơn 16 km) mỗi đêm.
Điện Biên Phủ có 33 tiểu đoàn chủ lực trực tiếp chiến đấu, phía sau họ là lực lượng bảo đảm hậu cần và vận tải lớn gấp nhiều lần, ngày đêm giữ cho dòng lương thực, đạn dược và vật chất không đứt.
Giữ được kinh tế là giữ được kháng chiến
Tuyên ngôn của giới Công Thương năm 1945 từng đặt độc lập kinh tế bên cạnh độc lập chính trị. 9 năm kháng chiến tư tưởng đó từng bước được cụ thể hóa bằng tổ chức sản xuất, quản lý lưu thông, bảo vệ tiền tệ, đấu tranh với kinh tế địch và xây dựng bộ máy điều hành phù hợp với điều kiện chiến tranh.
Gọi đó là "mặt trận không tiếng súng" mới chỉ đúng một nửa. Bởi có những cánh đồng người dân phải gặt dưới tầm đạn, có những đoàn dân công đi giữa bom pháo để đưa lương thực ra tiền tuyến. Kinh tế không đứng phía sau cuộc chiến, nó hiện diện ngay trong cuộc chiến, ở từng hạt gạo, chuyến hàng và đồng tiền phục vụ kháng chiến.
Điện Biên Phủ là trận quyết chiến quân sự, phía sau những đơn vị cầm súng là cả một nền kinh tế kháng chiến đã được tôi luyện suốt 9 năm, giữ sức sản xuất, giữ hạt gạo, giữ đồng tiền, giữ dòng hàng và đưa nguồn lực tới chiến trường.
Đoàn dân công gánh gạo phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ngày 7/5/1954, chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi vào lịch sử dân tộc một "thiên sử vàng". Quân và dân Việt Nam đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, "pháo đài bất khả xâm phạm" - niềm kiêu hãnh của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, làm nên chiến công "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Chiến thắng khép lại một chặng đường chiến đấu nhưng cũng đồng thời mở ra một nhiệm vụ khác...
Ngay từ năm 1953, ngành Công Thương đã bắt đầu chuẩn bị cho ngày trở về các đô thị, tổ chức nguồn hàng và tính toán công việc tiếp quản. Từ giữ cho kinh tế không bị bóp nghẹt giữa chiến tranh, một hành trình mới bắt đầu: khôi phục sản xuất, ổn định thị trường và dựng lại đời sống sau ngày chiến thắng.
>> Kỳ sau: Vẫn xây giữa lúc chống đỡ.