Longform
28/08/2026 23:27
Dữ liệu Công Thương

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số

Thứ Sáu, 28/08/2026 23:27:00 +07:00

(Công Thương) - Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, Báo Công Thương ra mắt chuyên mục báo chí dữ liệu với loạt bài 10 kỳ về vị thế Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026, chuyện về ba bài toán lớn mà Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng đặt ra cho toàn ngành, an ninh năng lượng, tự chủ công nghiệp và hiện đại hoá thương mại bằng dữ liệu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 1

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 2

 

Năm 2025 khép lại với GDP tăng 8,02%, mức chỉ thấp hơn năm 2022 trong cả giai đoạn 2011 tới 2025, theo báo cáo quý IV và năm 2025 của Cục Thống kê. Trên nền đó, 6 tháng đầu năm 2026 GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ (cùng kỳ 2025 tăng 7,63%), riêng quý II tăng 8,39%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20% vào mức tăng chung, theo báo cáo quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê.

Con số 8,18% được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo tại Hội nghị Chính phủ với địa phương đầu tháng 7/2026 là mức cao nhất từ năm 2011 tới nay, nhưng vẫn thấp hơn 1,52 điểm phần trăm so với mục tiêu 6 tháng (9,7%); để cả năm đạt hai con số, tăng trưởng 6 tháng cuối năm phải đạt 11,7%. Cũng tại hội nghị này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo: “Phải tháo gỡ ngay các điểm nghẽn để thúc đẩy tăng trưởng ít nhất 10%, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô”.

Ngành Công Thương đứng ở đâu trong bức tranh đó? Tại một báo cáo gần đây, Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp (Bộ Công Thương) khẳng định: Bộ tiếp tục là một trong những động lực đóng góp vào mức tăng GDP 8,18%. Bốn trụ gồm: an ninh năng lượng, sản xuất công nghiệp, thị trường trong nước và xuất nhập khẩu, cũng chính là bốn lát cắt của bài này.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 3

 

Còn con số cập nhật đến ngày 26/8 sáng hơn nhiều: 770,4 tỷ USD là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026; cùng lúc, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,6%, tổng mức bán lẻ tăng 13,3%, GDP 6 tháng đạt 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011.

Nhìn từ bên ngoài, nhịp tăng ấy đang được các định chế quốc tế ghi nhận. Trong bản Cập nhật Triển vọng Kinh tế Thế giới công bố tháng 7/2026, Quỹ Tiền tệ Quốc tế nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2026 lên 7,5%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với lần công bố trước, với lý do được nêu là xuất khẩu công nghệ mạnh hơn dự kiến cộng với cầu trong nước vững vàng. Cũng trong bản cập nhật đó, nhóm ASEAN-5 được dự báo tăng 4,1%, Ấn Độ 6,4%, Malaysia 4,7%, Trung Quốc 4,6% và Thái Lan 1,9%.

Cần nói rõ đó là dự báo tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước do một định chế đa phương lập, không phải số thống kê thực hiện của Việt Nam. Các nền kinh tế trong danh sách cũng có quy mô cùng cơ cấu rất khác nhau. Điều đáng chú ý không nằm ở thứ hạng mà ở hướng điều chỉnh: giữa một năm thương mại toàn cầu chịu sức ép thuế quan, Việt Nam nằm trong số ít nền kinh tế được nâng dự báo. Dẫu vậy, mức 7,5% ấy vẫn thấp hơn mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Trung ương đặt ra, tức khoảng cách phải bù vẫn còn nguyên.

Khoảng cách ấy không phải lần đầu ngành Công Thương được giao gánh vác. Ngày 13/10/1945, thời điểm đất nước vừa độc lập và ngân khố gần như trống rỗng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi giới Công Thương Việt Nam, giao cho giới này một phần việc tách bạch hẳn với phần việc của các giới khác: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà thì giới công thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng”. Cũng trong bức thư ấy, Người nêu một quan hệ mà tám mươi mốt năm sau vẫn là thước đo: “Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà doanh nghiệp thịnh vượng”.

Đọc lại câu ấy bên cạnh mức 7,5% mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo thì thấy con số tổng mới là một nửa của thước đo. Nửa còn lại nằm ở chỗ sức khoẻ của từng doanh nghiệp có đi cùng nhịp tăng chung hay không, câu hỏi mà các phần sau của bài sẽ trở lại bằng chính số liệu doanh nghiệp.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 4

 

Muốn đo đúng nỗ lực của một nền kinh tế, phải đo trong đúng thời tiết mà nó đang đi. Năm 2026, thời tiết ấy xấu.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 5

 

Mức tăng giá nhiên liệu theo khu vực kể từ khi chiến sự nổ ra

Bản Cập nhật Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 7/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế mô tả một mặt bằng giá năng lượng cao hơn khoảng 25% so với trước chiến sự, gắn với gián đoạn nguồn cung qua eo biển Hormuz. Cú sốc ấy không chia đều: kể từ khi chiến sự nổ ra, giá xăng bán lẻ tăng khoảng 30% ở khu vực châu Á mới nổi, trong khi Mỹ Latinh chỉ tăng 15%; giá khí hoá lỏng tăng khoảng 50% ở châu Á và 25% ở châu Âu, còn tại Hoa Kỳ chỉ tăng khoảng 10%. Việt Nam nằm trong nhóm chịu mức tăng cao nhất.

Hệ quả hiện lên trong bảng dự báo. So với chính bản công bố hồi tháng 4/2026, IMF hạ dự báo tăng trưởng của hàng loạt nền kinh tế:

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 6

 

Thay đổi dự báo tăng trưởng năm 2026 so với bản tháng 4/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 7

Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Cập nhật Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 7/2026.
Bảng 1. Số dự báo cả năm, không phải kết quả thực hiện. Cột thay đổi là chênh lệch so với bản Triển vọng tháng 4/2026 của chính tổ chức này.

Đọc bảng theo cột cuối mới thấy hết ý nghĩa. Trong nhóm được đối chiếu, phần lớn bị hạ dự báo, khu vực Trung Đông và Bắc Phi thậm chí rơi xuống mức tăng trưởng âm. Việt Nam nằm trong số ít nền kinh tế được nâng dự báo và là mức nâng cao trong nhóm này, với lý do IMF nêu rõ là xuất khẩu công nghệ mạnh hơn dự kiến cộng cầu trong nước vững vàng.

Điều đáng nói không nằm ở việc hơn kém ai. Nó nằm ở chỗ: cùng chịu một cú sốc năng lượng, cùng đối mặt một mặt bằng thương mại toàn cầu gần như đứng yên với khối lượng chỉ tăng 3,5%, các nền kinh tế phản ứng rất khác nhau. Việt Nam giữ được chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,6%, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,2% và sản lượng điện tăng 9,4% sau 8 tháng. Đó là kết quả của điều hành chứ không phải của thời tiết thuận lợi.

Nhưng cũng chính vì cú sốc giá năng lượng đánh mạnh nhất vào nhóm châu Á mới nổi mà vế cân bằng ở phần dưới đây càng phải xem kỹ: lạm phát của Việt Nam năm 2026 được dự báo ở mức cao. Giữ được tốc độ là một chuyện, giữ được mặt bằng giá là chuyện khác và đó mới là phần khó của 4 tháng còn lại.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 8

 

Con số trong nước chỉ nói được một nửa câu chuyện. Nửa còn lại nằm ở chỗ Việt Nam đang đứng đâu khi đặt cạnh những nền kinh tế cùng khu vực và cạnh mặt bằng chung của thế giới.

Vẫn theo Bản Cập nhật Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 7/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đặt mức dự báo tăng trưởng 2026 của Việt Nam ở 7,5%, trong khi tăng trưởng toàn cầu được dự báo chậm lại còn 3,0% và nhóm ASEAN-5 chỉ 4,1%. Nói gọn, tốc độ dự báo của Việt Nam gấp hai lần rưỡi mặt bằng thế giới và gần gấp đôi mặt bằng khu vực.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 9

Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Cập nhật Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 7/2026. Đây là số dự báo cho cả năm, không phải kết quả thực hiện. Riêng mức của Việt Nam được IMF nâng 0,4 điểm phần trăm so với lần công bố tháng 4/2026, với lý do được nêu là xuất khẩu công nghệ mạnh hơn dự kiến cộng với cầu trong nước vững.

Bảng ấy giải thích vì sao xuất khẩu 8 tháng của Việt Nam tăng tới 22,2%. Cũng trong bản cập nhật tháng 7/2026, IMF dự báo khối lượng thương mại hàng hoá và dịch vụ toàn cầu năm 2026 chỉ tăng 3,5%. Hai con số này đo hai thứ khác nhau, một bên là kim ngạch tính bằng giá trị của riêng Việt Nam, một bên là khối lượng thương mại của cả thế giới, nên không được đặt cạnh nhau để trừ ra một khoảng cách. Nhưng đọc cùng nhau thì thấy rõ: hàng Việt Nam đang giành thêm thị phần trong một chiếc bánh chung gần như đứng yên.

Nhưng không chỉ một tổ chức nhìn vào Việt Nam. Bốn định chế tài chính và kinh tế lớn cùng công bố dự báo cho năm 2026 và ra bốn con số khác nhau, chênh nhau tới một điểm phần trăm. Chính khoảng chênh ấy nói được nhiều điều hơn bất kỳ con số đơn lẻ nào.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 10

Nguồn: IMF, WEO Update tháng 7/2026; ADB, Asian Development Outlook tháng 7/2026; World Bank, thông cáo báo chí ngày 15/5/2026 kèm bản Cập nhật Kinh tế Việt Nam; OECD, Economic Outlook Volume 2026 Issue 1, chương Việt Nam. Bốn con số này không mâu thuẫn mà phản ánh các mốc thời gian khác nhau: bản của Ngân hàng Thế giới công bố giữa tháng 5, bản OECD tháng 6, hai bản của IMF và ADB đều tháng 7. 

Đọc theo trục thời gian thì thấy một xu hướng: càng về sau, đánh giá của bên ngoài về Việt Nam càng tốt lên. Ngân hàng Thế giới hồi tháng 5 dự báo tăng trưởng chậm lại còn 6,8% sau mức 8% của năm 2025. OECD tháng 6 hạ tiếp xuống 6,5%. Tới tháng 7, cả hai định chế cùng công bố trong tháng đều cao hơn hẳn: ADB giữ mức 7,2% và IMF nâng lên 7,5%, với lý do nêu rõ là xuất khẩu công nghệ mạnh hơn dự kiến. Số liệu 8 tháng trong nước đang ủng hộ hướng đánh giá sau cùng ấy.

Riêng con số của Ngân hàng Phát triển châu Á đáng dừng lại lâu hơn một chút, vì nó không nằm ở mức dự báo mà ở chỗ mức ấy không đổi. Đối chiếu bản tháng 4 với bản tháng 7 năm 2026 của cùng tổ chức này trên toàn bộ 54 nền kinh tế đơn lẻ được xếp hạng cho thấy một bức tranh khắc nghiệt: 26 nền kinh tế bị hạ dự báo, 21 nền giữ nguyên, chỉ 12 nền được nâng. Việt Nam thuộc nhóm giữ nguyên ở mức 7,2%.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 11

Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á, Asian Development Outlook tháng 7/2026, bảng tăng trưởng GDP; phép đối chiếu giữa hai bản tháng 4 và tháng 7 do toà soạn thực hiện trên tệp số liệu gốc.

Đọc bảng này thì thấy hai điều. Một là, Việt Nam là nền kinh tế được dự báo tăng nhanh nhất Đông Nam Á theo thước đo của ADB, gấp hơn một lần rưỡi mức chung của khu vực. Hai là, trong khi Philippines bị hạ 0,6 điểm và Campuchia bị hạ 0,4 điểm thì Việt Nam không mất điểm nào. Ở một năm mà gần một nửa số nền kinh tế châu Á bị hạ dự báo, giữ nguyên đã là một kết quả.

Cần nói ngay cho đủ hai vế: Trong nhóm 21 nền kinh tế không bị hạ, Việt Nam đứng thứ ba về mức tăng, sau Kyrgyzstan 8,9% và Tajikistan 7,3%. Và trên toàn châu Á đang phát triển, mức 7,2% của Việt Nam đứng thứ tư, sau Đài Loan (Trung Quốc) 9,5%, Kyrgyzstan 8,9% và Tajikistan 7,3%.

Điều đáng chú ý hơn con số là cách các tổ chức này đọc rủi ro. Giám đốc Khối Việt Nam, Campuchia và Lào của Ngân hàng Thế giới, Mariam J. Sherman, phát biểu khi công bố báo cáo ngày 15/5/2026 rằng điều kiện toàn cầu mềm đi đang làm môi trường bên ngoài của Việt Nam thách thức hơn, cú sốc dầu bồi thêm rủi ro giảm tốc, trong khi biến đổi khí hậu, thay đổi công nghệ nhanh, dịch chuyển nhân khẩu học và nhu cầu hạ tầng tăng lên đang định hình lại chính nền móng của tăng trưởng dài hạn. Kết luận được nêu thẳng: phép thử thật sự nằm ở chỗ thực thi, cấp vốn và duy trì được chương trình cải cách đang triển khai.

Đó là một nhận xét đúng chỗ. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra ba việc quyết định sức bền trung hạn của nền kinh tế, cả ba đều thuộc phạm vi ngành Công Thương: giữ lại được nhiều giá trị hơn ở trong nước, làm sâu liên kết giữa doanh nghiệp có vốn nước ngoài với doanh nghiệp nội địa và nâng năng suất.

Còn OECD ghi nhận mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% mỗi năm giai đoạn 2026 tới 2030 mà Việt Nam đặt ra. Đặt mục tiêu ấy cạnh dự báo 6,5% của chính OECD thì hiện ra một khoảng cách 3,5 điểm phần trăm. Khoảng cách đó không phải lời chê. Nó là khối lượng công việc. Phần lớn khối lượng ấy rơi vào công nghiệp, thương mại và năng lượng.

Có hai vế phải nói ngay để bức tranh không bị lệch.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 12

 

GDP bình quân đầu người năm 2026, số dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Vế thứ nhất là quy mô. Theo cơ sở dữ liệu World Economic Outlook bản tháng 4/2026, bản gần nhất có chỉ tiêu này, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2026 được dự báo đạt 5.115 USD. Tốc độ hôm nay là cách duy nhất để rút ngắn khoảng cách ấy, chứ chưa phải bằng chứng rằng khoảng cách đã được rút ngắn.

Vế thứ hai là giá cả. Cũng theo bản tháng 4/2026, lạm phát bình quân năm 2026 của Việt Nam được dự báo 4,9%, cao hơn mức bình quân thế giới 4,4% và cao hơn hẳn Thái Lan 0,9%, Trung Quốc 1,2%, Malaysia 1,9%. Con số ấy khớp với số trong nước: chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng tăng 4,39%, lạm phát cơ bản 4,19%. Tăng trưởng nhanh đi kèm mặt bằng giá cao hơn khu vực chính là cái giá đang phải trả và là việc phải điều hành trong 4 tháng còn lại.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 13

 

Ba con số 7,5%, 3,0% và 3,5% ở trên mới là phần đo được. Phần khó đo hơn nằm ở chỗ khác. Báo cáo An ninh Munich 2026, công bố tháng 2/2026 với tựa Under Destruction, dành riêng chương 4 cho thương mại toàn cầu và mở đầu bằng nhận định rằng năm 2025 trật tự thương mại thế giới chịu sức ép chưa từng có, khi Hoa Kỳ thay đổi chính sách thuế quan.

Chương này dẫn một con số đáng chú ý với mọi nền kinh tế sống bằng xuất khẩu: thuế suất nhập khẩu bình quân của Hoa Kỳ đã lên mức chỉ thấy lần gần nhất vào thập niên 1930 và cao gấp gần tám lần năm liền trước. Nhưng chính báo cáo lại cho rằng thứ gây hại nhiều hơn không phải bản thân thuế. Dẫn lời Tổng Thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển Rebeca Grynspan, báo cáo gọi sự bất định là “thứ thuế quan cao nhất trong tất cả”. Cùng mạch ấy, Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế Kristalina Georgieva phát biểu tại Viện Milken ngày 8/10/2025: “Bất định là trạng thái bình thường mới và nó sẽ còn ở lại.”

Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, phát biểu đáng lưu ý nhất trong chương lại đến từ một nước nhỏ. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Vivian Balakrishnan nói trên Financial Times ngày 8/4/2025: nếu hệ thống thương mại toàn cầu sụp đổ để mọi thứ trở thành một chuỗi vô tận các thoả thuận song phương thì tình thế “sẽ rất thù địch với các quốc gia nhỏ”. Câu ấy giải thích vì sao 17 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đang có không chỉ là công cụ mở thị trường, mà còn là lớp đệm thể chế khi luật chơi chung bị bào mòn.

Bức tranh không chỉ có màu tối. Vẫn theo chương 4, khoảng 72% thương mại toàn cầu hiện còn nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật lệ Tổ chức Thương mại Thế giới. Cơ chế phúc thẩm tạm thời nhiều bên đã quy tụ 58 thành viên, bao phủ gần 60% thương mại thế giới. Kết luận của báo cáo là trật tự thương mại toàn cầu bị vùi dập nhưng chưa gãy. Đó chính là dải hẹp mà ngành thương mại thế giới phải đi qua trong 4 tháng còn lại của năm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 14

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 15

 

Nhịp tăng IIP đi lên qua từng mốc đo

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 16

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 17

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2026 tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng, IIP tăng 11,6% so với cùng kỳ, theo báo cáo của Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp. Ở mốc 7 tháng liền trước, Cục Thống kê ghi nhận IIP tăng 11,4%, là “mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua” và tăng ở cả 34 địa phương. Để so sánh: IIP cả năm 2025 tăng 9,2% (2024 tăng 8,2%); 6 tháng đầu năm 2026 tăng 10,8% trong khi 6 tháng đầu năm 2025 chỉ tăng 8,7%. Nhịp tăng vì thế đang đi lên qua từng mốc đo: 8,7% cùng kỳ 2025, 10,8% sau 6 tháng, 11,4% sau 7 tháng, 11,6% sau 8 tháng và 12,6% riêng tháng 8.

Động lực nằm ở chế biến, chế tạo: 6 tháng đầu năm ngành này tăng 11,4%, đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, khai khoáng tăng 5,8% sau khi giảm 3,5% cùng kỳ năm trước, theo Cục Thống kê. 

Nhưng công nghiệp tăng cao chưa đồng nghĩa với đạt kế hoạch. Tại Hội nghị Chính phủ với địa phương hồi đầu tháng 7, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhìn nhận tăng trưởng công nghiệp tuy cao nhưng ông vẫn kỳ vọng tăng hơn nữa.

Nhịp tăng hai con số ấy còn mang một ý nghĩa khác khi đặt vào so sánh quốc tế. Nhà kinh tế Dani Rodrik, Đại học Harvard, đặt tên cho một hiện tượng ông quan sát được ở nhiều nước đang phát triển là phi công nghiệp hoá sớm: các nước ấy bắt đầu giảm tỷ trọng công nghiệp rồi chuyển sang phụ thuộc dịch vụ ngay ở mức thu nhập thấp hơn nhiều so với mức mà các nước phát triển từng đi qua, một phần vì thành công của Trung Quốc khiến nước đi sau khó giành được chỗ đứng trong chế tạo ngoài vài ngách hẹp. Rodrik cũng cảnh báo dịch vụ khó thay công nghiệp làm thang máy tăng trưởng, bởi phần lớn việc làm dịch vụ ở các nước thu nhập thấp nằm trong khu vực phi chính thức với năng suất thấp.

Đối chiếu với số liệu 8 tháng thì Việt Nam đang đi ngược xu thế Rodrik mô tả: chế biến, chế tạo tăng 11,4% và đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung, tức công nghiệp vẫn giữ vai thang máy chứ chưa nhường chỗ cho dịch vụ. Đây là lợi thế đáng giữ, nhưng giữ được tới đâu lại phụ thuộc vào phần giá trị nội địa, đúng bài toán thứ hai trong ba bài toán mà Bộ trưởng nêu ở cuối bài này.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 18

 

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 19

 

Cán cân thương mại đổi dấu sau 8 tháng năm 2026 (tỷ USD)

Tám tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hoá ước đạt 374,0 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 396,4 tỷ USD, tăng 35,7%; cộng hai chiều, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,4 tỷ USD. Cán cân thương mại nhập siêu 22,4 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước còn xuất siêu, theo báo cáo của Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp. Riêng tháng 8, xuất khẩu đạt 54,23 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng 7 và tăng 24,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu 56,35 tỷ USD, giảm 0,6% so với tháng 7 nhưng vẫn tăng khoảng 41,5% so với cùng kỳ; nhập siêu phát sinh trong tháng 2,12 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ tháng 4. Đây là tín hiệu đáng chú ý nhất của mốc 8 tháng: lần đầu tiên trong năm, tốc độ nới rộng thâm hụt chững lại.

Bên trong con số nhập siêu là hai khu vực đi ngược chiều: khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 28,50 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,98 tỷ USD. Về cơ cấu, xuất khẩu của khu vực trong nước đạt 63,64 tỷ USD, tăng 5,8%, chỉ chiếm 19,9% tổng kim ngạch; khu vực FDI đạt 255,89 tỷ USD, tăng 26,4%, chiếm 80,1%. 

Để thấy độ lệch của năm 2026 so với năm liền trước: cả năm 2025 Việt Nam xuất siêu 20,03 tỷ USD (2024: 24,94 tỷ USD), khu vực trong nước chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, theo báo cáo quý IV và năm 2025 của Cục Thống kê. Chỉ sau 8 tháng, cán cân đã đổi dấu với biên độ vượt mức xuất siêu của cả năm trước và tỷ trọng doanh nghiệp trong nước chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu.

Bộ Công Thương lý giải phần lớn nhập siêu là nhập khẩu để đầu tư và sản xuất. Tại họp báo quý II/2026, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải cho biết 6 tháng đầu năm nhập khẩu nhóm điện tử, máy vi tính và linh kiện đạt khoảng 110 tỷ USD, tăng 62%, chiếm khoảng 38% tổng kim ngạch nhập khẩu; cộng thêm nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng thì hai nhóm chiếm khoảng 51% tổng nhập khẩu. Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu ngày 25/6/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng chỉ ra bốn rủi ro lớn của xuất nhập khẩu: độ mở nền kinh tế quá cao; phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu và máy móc; tập trung vào một số thị trường chủ lực; chưa làm chủ chuỗi logistics và vận tải quốc tế. 

Bán lẻ 5.227 nghìn tỷ đồng, điện 235,9 tỷ kWh, FDI đăng ký 38,06 tỷ USD: ba trụ đỡ đang tăng hai con số.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 20

 

Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tới 31/7/2026

Thị trường trong nước giữ nhịp tăng hai con số: tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng ước đạt 5.227 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ, riêng tháng 8 tăng 14,7%. Ở mốc 7 tháng, Cục Thống kê ghi nhận tổng mức đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%, loại trừ yếu tố giá tăng 7,5% (năm 2025 tăng 7,4%). Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng tăng 4,39%, lạm phát cơ bản tăng 4,19%. Họp báo quý II của Bộ ghi nhận mức tăng bán lẻ 6 tháng 12,9% là “tiệm cận mục tiêu cả năm”.

Về điện, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống 8 tháng năm 2026 đạt 235,9 tỷ kWh, tăng 9,4% so với cùng kỳ, bằng 67,4% kế hoạch năm, bình quân khoảng 29,0 tỷ kWh mỗi tháng. Về cơ cấu nguồn, số gần nhất có bóc tách là thông cáo tháng 7/2026 của EVN: riêng tháng 7 đạt 32,03 tỷ kWh, trong đó nhiệt điện than chiếm 52,3%. Hệ thống vận hành an toàn, không để gián đoạn nguồn cung điện và xăng dầu ngay trong thời điểm xung đột Trung Đông làm giá dầu thế giới biến động. Đây là mặt trận Thủ tướng Lê Minh Hưng lưu ý khi làm việc với Bộ ngày 22/4/2026: Ngành công thương “chịu trách nhiệm không để thiếu điện, xăng dầu trong mọi tình huống”.

Về vốn cho tăng trưởng, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tính đến 31/7/2026 đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0% so với cùng kỳ; vốn thực hiện ước 15,20 tỷ USD, tăng 11,8%, theo Cục Thống kê. Rộng hơn, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II/2026 ước đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1%, theo báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương. Dòng vốn đăng ký tăng 58% là chỉ báo về đơn hàng của năm 2027, đồng thời giải thích phần nhập khẩu máy móc và linh kiện tăng vọt nửa đầu năm.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ “không chấp nhận tăng trưởng nóng, tăng trưởng cao bằng mọi giá nếu gây ra bất ổn vĩ mô”.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 21

 

Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 giao Bộ Công Thương theo dõi 8 chỉ tiêu. Dưới đây là bản đối chiếu giữa mức giao và nhịp thực hiện 8 tháng.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 22

 

Ba điều cần nói rõ khi đọc bảng này. Thứ nhất, đây là nhịp 8 tháng đặt cạnh chỉ tiêu cả năm, hai kỳ có độ dài khác nhau và các tháng cuối năm thường mang nhịp riêng, nên một dòng chạy trên dải giao chưa cho phép kết luận cả năm sẽ vượt. Thứ hai, hai dòng thương mại điện tử đang tăng tốc tiến gần về mức đạt chỉ tiêu. Thứ ba, tỷ lệ dự phòng công suất nguồn ở mốc 7 tháng chưa có số công bố, tới mốc 8 tháng mới có và đạt 27% tính theo quý, vượt mức giao 21,8%.

Nhiệm vụ trên đặt trong nhịp 8 tháng, hai kỳ có độ dài khác nhau và các tháng cuối năm thường mang nhịp riêng, nên một dòng chạy trên dải giao chưa cho phép kết luận cả năm sẽ vượt.

Đọc dọc bảng, hình dung hiện lên khá rõ: tốc độ đang bám sát và có chỗ sắp về đích, có chỗ khó khăn. Xuất khẩu vượt chỉ tiêu, sản lượng điện đi đúng nhịp khi các tháng cuối năm phụ tải cao hơn, bán lẻ đạt mục tiêu. Quý IV thường là quý xuất siêu mạnh nhất nên chưa thể kết luận cho cả năm, song đây là chỗ có rủi ro lệch định hướng lớn nhất của bức tranh. Đó cũng chính là chỗ mà chỉ đạo cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tự chủ, bền vững của chính Nghị quyết này gặp bài toán tự chủ công nghiệp mà Bộ trưởng đặt ra cho toàn ngành.

Theo dự thảo báo cáo sơ kết nói trên, tính đến hết tháng 5/2026 ngành có 2 chỉ tiêu vượt, 2 chỉ tiêu đạt và 4 chỉ tiêu chưa đạt. Số 8 tháng của Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp cho thấy hai trong bốn chỉ tiêu chưa đạt đang cải thiện nhanh: chỉ số sản xuất công nghiệp đã lên 11,4% và bán lẻ lên 13,1%, so với mức 10,9% và 11,5% của 5 tháng mà dự thảo ghi nhận. Quỹ đạo đang đi lên. Chỉ tiêu về thương mại điện tử cũng đã bám sát.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 23

 

Con số 38,06 tỷ USD là vốn đăng ký, gồm cả vốn cấp mới, vốn điều chỉnh và phần góp vốn mua cổ phần, chứ không phải dòng tiền đã vào nền kinh tế. Phần đã vào thật là 15,20 tỷ USD vốn thực hiện, tăng 11,8%, tức nhịp tăng chỉ bằng khoảng một phần năm nhịp tăng của vốn đăng ký. Câu hỏi cần theo dõi trong 5 tháng còn lại là tiến độ giải ngân và thời điểm phần vốn đăng ký ấy chuyển thành năng lực sản xuất mới.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 24

 

Nếu các con số trên là phần “cái gì”, thì tầm nhìn điều hành là phần “làm thế nào”. Chiều 10/7/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng chủ trì Hội nghị lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Bộ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Ông cho biết ngành đã xác định ba bài toán lớn: an ninh năng lượng; tự chủ công nghiệp và nâng cao nội địa hoá; hiện đại hoá thương mại bằng dữ liệu và logistics thông minh, từ đó hình thành danh mục 6 công nghệ và 16 sản phẩm công nghệ chiến lược.

Bộ trưởng cũng chia sẻ về chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” hành chính sang “quản trị” hiện đại: thước đo hiệu quả không dừng ở tỷ lệ hoàn thành kế hoạch mà phải nằm ở chất lượng sản phẩm thực tế và khả năng tối ưu hoá nguồn lực; mọi nhiệm vụ tuân thủ nguyên tắc “6 rõ” là rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ hiệu quả. Trên mặt trận thể chế, Bộ đã cắt giảm 367/658 điều kiện kinh doanh, tương đương hơn 55%, bãi bỏ 111 thủ tục hành chính và đơn giản hoá 177 thủ tục.

Nguyên tắc 6 rõ là yêu cầu chung của Chính phủ với toàn hệ thống chứ không phải sáng kiến riêng của một bộ, nhưng yêu cầu chuyển từ quản lý sang quản trị là một vấn đề mới.

Ba bài toán ấy khớp với ba nhiệm vụ mà Thủ tướng Lê Minh Hưng giao cho Bộ ngày 22/4/2026: bảo đảm an ninh năng lượng và rà soát Quy hoạch điện VIII; nâng hiệu quả xuất nhập khẩu, đa dạng hoá thị trường và chuẩn bị đàm phán thuế đối ứng với Hoa Kỳ; số hoá hệ thống phân phối nội địa. Thủ tướng nhấn mạnh trong nhiệm vụ tăng trưởng bền vững hai con số, “bộ, ngành công thương phải gánh vác nhiệm vụ trọng tâm”.

Bước chuyển từ quản lý sang quản trị đặt ra một đòi hỏi cũ mà cuộc cải tổ bộ máy nào cũng gặp. Tháng 3/1923, trong bài “Thà ít mà tốt”, V.I. Lênin rút gọn đòi hỏi ấy thành một quy tắc dành cho chính cơ quan được giao việc cải tiến bộ máy: “chỉ hành động khi đã suy nghĩ chín chắn”. V.I. Lênin còn yêu cầu những gì ưu tú nhất của chế độ phải được dùng “một cách hết sức thận trọng, có suy nghĩ kỹ và với một sự am hiểu cặn kẽ”. Hoàn cảnh nước Nga sau nội chiến khác hẳn Việt Nam năm 2026, nhưng chỗ trùng nhau nằm ở cách đo: con số 367 trên 658 điều kiện kinh doanh đã cắt cho biết tốc độ, chưa cho biết phần bộ máy còn lại có chạy trơn hay không.

Đó cũng là chỗ mà nguyên tắc “6 rõ” hướng tới. Hai vế cuối của nguyên tắc ấy, rõ sản phẩm và rõ hiệu quả, chính là hai vế trả lời cho câu hỏi Lênin đặt ra hơn một trăm năm trước, đồng thời là hai vế khó đo nhất trong sáu vế.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 1: Tăng tốc trước ngưỡng cửa hai con số - 25

 

Bước chuyển từ quản lý sang quản trị mà Bộ Công Thương đang làm không phải là sáng kiến riêng của một bộ. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đặt nó thành quan điểm chỉ đạo cho cả nước: “chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển”.

Đọc câu ấy cạnh nguyên tắc “6 rõ” của Bộ thì thấy hai văn bản nói cùng một thứ tiếng. Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm là bốn vế của quản trị theo mục tiêu; rõ sản phẩm và rõ hiệu quả là hai vế của đo lường bằng kết quả và tác động. Điều Nghị quyết đòi thêm là dữ liệu: quản trị phải dựa trên dữ liệu, tức là mỗi chỉ tiêu cần một dòng số công bố định kỳ chứ không dừng ở báo cáo tổng hợp cuối kỳ.

Chương trình số 33-Ctr/TW của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết này xác định 40 chỉ tiêu cụ thể tại Phụ lục 1 để đánh giá kết quả đổi mới mô hình phát triển đất nước đến các năm 2030, 2035 và 2045, đồng thời giao các cấp uỷ cụ thể hoá chỉ tiêu theo ngành và lĩnh vực. Với ngành Công Thương, 8 chỉ tiêu Chính phủ giao cho năm 2026 mà bài này theo dõi chỉ là lát cắt một năm của bộ chỉ tiêu dài hạn ấy.

 

Còn tiếp...

Có thể bạn quan tâm