Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 1: Khát vọng vươn lên trong ngổn ngang

Nền Công Thương Việt Nam năm 1945 có gì trong tay và điều gì đã đưa một bộ phận giới Công Thương bản xứ lựa chọn đồng hành cùng cách mạng ngay trong những ngày đầu lập quốc?

Những "viên gạch" đầu tiên của nền kinh tế độc lập

Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng vừa ra đời phải tiếp quản một nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều thập niên thuộc địa và những năm chiến tranh. Ngân khố gần như trống rỗng, nhiều diện tích ruộng đất bỏ hoang, hàng loạt cơ sở sản xuất đình trệ, ngoại thương đứt gãy trong lúc hậu quả của nạn đói vẫn đè nặng lên đời sống hàng triệu người dân.

Nhưng sẽ thiếu chính xác nếu coi nền Công Thương Việt Nam khi đó là "con số không". Trong cơ cấu kinh tế thuộc địa vốn lệ thuộc và phục vụ chủ yếu cho lợi ích của chính quốc, Việt Nam vẫn có những cơ sở khai khoáng, chế biến, cơ khí, dệt, sản xuất vật liệu cùng một mạng lưới thủ công nghiệp rộng khắp. Bên cạnh các doanh nghiệp do tư bản Pháp chi phối, một số cơ sở sản xuất và kinh doanh của người Việt đã được gây dựng, lực lượng công nhân và thợ thủ công từng bước hình thành, một lớp doanh nhân bản xứ tìm đường mở mang công thương nghiệp trong những giới hạn chật hẹp của chế độ thuộc địa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ giới Công Thương Hà Nội ngày 18/9/1945. Ảnh: Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ giới Công Thương Hà Nội ngày 18/9/1945. Ảnh: Tư liệu

Bài viết này lần lại bức tranh đó qua những nguồn tư liệu còn lưu giữ đến hiện nay, gồm báo chí kinh tế Đông Dương bằng tiếng Pháp những năm cuối thời thuộc địa, hồ sơ doanh nghiệp của người Việt, báo chí thực nghiệp bằng chữ Quốc ngữ từ thập niên 1920, văn kiện của Công Thương Cứu quốc đoàn năm 1945 cùng hồi ký của người trong cuộc và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước…

Qua những tư liệu đó, nền Công Thương Việt Nam buổi đầu lập quốc hiện lên rõ nét: Cơ sở vật chất nghèo nàn, nền sản xuất lệ thuộc và kiệt quệ nhưng bên trong đã hình thành những mầm mống về lực lượng sản xuất, tư duy kinh tế và khát vọng tự chủ. Đó là phần vốn ít ỏi nhưng quan trọng để ngành Công Thương của nước Việt Nam độc lập bắt đầu hành trình gây dựng trong những ngày đầu đầy ngổn ngang.

Một nền công nghiệp dựng lên cho... người khác

Muốn hiểu nền công nghiệp Đông Dương dưới chế độ thuộc địa được tổ chức theo logic nào, có thể bắt đầu từ chính những tư liệu do người Pháp để lại. Trong kho số hóa của Thư viện Quốc gia Pháp hiện còn các số L’Information d’Indochine, économique et financière năm 1944 đăng loạt bài "L’effort d’industrialisation de l’Indochine”, dựa trên công trình của cơ quan thanh tra mỏ Đông Dương công bố trước đó. Ngay phần mở đầu, tài liệu thừa nhận chủ trương phát triển công nghiệp tại thuộc địa "không hề được chấp nhận ngay từ đầu".

Lý do phản đối được trình bày khá rõ. Tài liệu viết: "viễn cảnh thấy các thị trường tiêu thụ hàng chính quốc bị đóng lại và thấy những luồng thương mại đã thiết lập vững chắc biến mất chắc chắn là những lý lẽ mạnh mẽ chống lại việc phát triển công nghiệp". Phía sau cuộc tranh luận về công nghiệp hóa còn là bài toán lợi ích, nếu Đông Dương tự sản xuất được ngày càng nhiều hàng hóa, thị trường dành cho sản phẩm đưa từ Pháp sang có nguy cơ bị thu hẹp.

Bài báo nhận xét, khi ấy người ta "thấy tự nhiên đến mức phải nhập khẩu tất cả những gì mình thiếu”. Quan điểm khuyến khích thủ công nghiệp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ có thời gian chiếm ưu thế hơn ý tưởng xây dựng một nền công nghiệp hiện đại.

Một vấn đề mà các bên tham gia tranh luận đều nhận thấy là sức ép dân số. Theo tài liệu, dân số Trung Kỳ và Bắc Kỳ tăng gần 200.000 người mỗi năm, đặt ra yêu cầu phải mở thêm sinh kế và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên, nhận diện được sức ép là một chuyện, lựa chọn con đường công nghiệp hóa để giải quyết lại là câu chuyện khác.

Sự lệ thuộc của nền sản xuất thể hiện khá rõ ngay ở một số ngành chế biến mà tài liệu năm 1944 dẫn ra. Xi măng, rượu và giấy đều đã được sản xuất tại Đông Dương nhưng một số nguyên liệu hoặc hóa chất quan trọng vẫn phải đưa từ nước ngoài vào.

Nguồn: L’Information d’Indochine, économique et financière, số ra ngày 1/1/1944, bài "L’effort d’industrialisation de l’Indochine", trang 2, bản số hóa của Thư viện Quốc gia Pháp.

Nguồn: L’Information d’Indochine, économique et financière, số ra ngày 1/1/1944, bài "L’effort d’industrialisation de l’Indochine", trang 2, bản số hóa của Thư viện Quốc gia Pháp.

3 trường hợp này không đại diện cho toàn bộ công nghiệp Đông Dương, bởi thời điểm đó đã tồn tại khai khoáng, xay xát, dệt, cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng và nhiều ngành chế biến khác. Tuy nhiên, chúng phản ánh đặc điểm quan trọng của cơ cấu sản xuất thuộc địa: ngay một số ngành đã hình thành tương đối rõ vẫn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, hóa chất, thiết bị hoặc thị trường bên ngoài.

Một văn kiện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 22/6/1945 đưa ra nhận định trực diện hơn về cơ chế vận hành của nền kinh tế. Trong tài liệu An Estimate of Conditions in Asia and the Pacific at the Close of the War, phần viết về Đông Dương nêu: "Chính sách của Pháp trước chiến tranh là bóc lột kinh tế thuộc địa để phục vụ nước Pháp. Đông Dương phải mua đắt trong thị trường được bảo hộ của Pháp và bán rẻ ở thị trường không được bảo hộ của các nước khác".

"Mua đắt" và "bán rẻ" là cách diễn đạt cô đọng về sự bất bình đẳng trong quan hệ kinh tế thuộc địa. Điều cần lưu ý hơn nằm ở thời điểm văn kiện được viết, tháng 6/1945, khi chiến tranh thế giới đang đi tới hồi kết và câu hỏi về tương lai Đông Dương đã được đặt ra trong tính toán của các cường quốc.

Cùng văn kiện đó nhận định chính sách của Pháp đối với Đông Dương sau chiến tranh có khả năng bị chi phối bởi mong muốn tái lập quyền kiểm soát nhằm khẳng định vị thế cường quốc. Tài liệu cũng đề cập ảnh hưởng mạnh của Ngân hàng Đông Dương cùng các nhóm lợi ích kinh tế gắn với thuộc địa.

Những tư liệu của Pháp và Hoa Kỳ cùng chung nhận định nền kinh tế Đông Dương đã có công nghiệp nhưng cơ cấu phát triển bị ràng buộc bởi mục tiêu khai thác thuộc địa, lợi ích của chính quốc và phụ thuộc lớn vào vốn, công nghệ, thiết bị, thị trường bên ngoài. Công nghiệp được xây dựng nhưng khả năng tự chủ của nền kinh tế bản địa vẫn rất hạn chế.

Sự phân bố nguồn lực tự nhiên cũng tạo nên những khác biệt lớn giữa các vùng. Trong "The Two Viet-Nams" xuất bản năm 1963, Bernard Fall chỉ ra phần lớn nguồn khoáng sản quan trọng của Việt Nam tập trung ở phía bắc vĩ tuyến 17, trong khi cao su và nhiều nguồn nông sản hàng hóa lớn lại tập trung nhiều hơn ở phía Nam. Cơ cấu tài nguyên về sau trở thành một trong những điều kiện vật chất ảnh hưởng tới lựa chọn và phân bố ngành sản xuất giữa hai miền.

Đến năm 1945, chiến tranh đẩy nền công nghiệp vốn đã lệ thuộc đó vào tình trạng suy giảm nghiêm trọng. "Lịch sử Việt Nam", tập 10 ghi lại mức sụt giảm rất mạnh của khai khoáng trong vòng 5 năm.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam, tập 10, phần về phục hồi công thương nghiệp sau Cách mạng Tháng Tám.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam, tập 10, phần về phục hồi công thương nghiệp sau Cách mạng Tháng Tám.

Những con số đã phản ánh mức độ đứt gãy rất lớn của lực lượng sản xuất. Riêng ngành mỏ, số công nhân còn làm việc giảm từ 39.500 người năm 1940 xuống khoảng 4.000 người năm 1945, trong khi sản lượng than chỉ còn chưa bằng 1/10. Theo Lịch sử Việt Nam, nhiều xí nghiệp quan trọng bị quân Nhật chiếm dụng và khai thác, một số cơ sở sản xuất bị máy bay Đồng minh đánh phá, hoạt động đầu tư đình trệ và lực lượng lao động bị phân tán.

Như vậy, "di sản" mà chính quyền mới tiếp nhận là những nhà máy thiếu vốn hay máy móc hư hỏng; một phần quan trọng của hệ thống sản xuất đã bị gián đoạn, lực lượng lao động giảm mạnh, chuỗi cung ứng và thị trường bị chia cắt trong lúc khả năng huy động vốn, nguyên liệu và thiết bị đều hết sức hạn chế.

Cùng với cơ cấu khai thác khoáng sản và sản xuất phục vụ mạnh cho xuất khẩu, chính quyền thuộc địa còn duy trì chế độ độc quyền đối với những mặt hàng như rượu, muối và thuốc phiện, thường được gọi là chế độ công quản hoặc thuế chuyên mãi. Những nguồn thu này giữ vị trí quan trọng trong bộ máy tài chính thuộc địa, đồng thời tạo thêm gánh nặng đối với đời sống người dân.

Xưởng luyện kim Tà Sa, Tĩnh Túc, Cao Bằng cũ (nay là Thái Nguyên) của Công ty Thiếc và Volfram Bắc Kỳ

Xưởng luyện kim Tà Sa, Tĩnh Túc, Cao Bằng cũ (nay là Thái Nguyên) của Công ty Thiếc và Volfram Bắc Kỳ

Ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề cải thiện đời sống nhân dân và tháo bỏ một số gánh nặng của chế độ cũ. Trong 6 nhiệm vụ cấp bách được nêu ngày 3/9/1945, Người đề nghị bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò và tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

Nạn đói năm 1945 - ký ức đau thương

Những năm cuối của nền kinh tế thuộc địa khép lại bằng một thảm họa nhân đạo đặc biệt nghiêm trọng.  Nạn đói năm Ất Dậu (1944-1945) đã cướp đi sinh mạng của khoảng 2 triệu người dân Việt Nam, chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói".

Thảm họa đó không thể giải thích chỉ bằng thiên tai hay mất mùa. Trong"Rice Wars in Colonial Vietnam: The Great Famine and the Viet Minh Road to Power", xuất bản năm 2014, nhà nghiên cứu Geoffrey C. Gunn chỉ ra nghịch lý lớn của nền kinh tế Đông Dương thời chiến: nạn đói hoành hành dữ dội ở miền Bắc trong khi miền Nam vẫn có nguồn lúa gạo lớn, có thời điểm thóc dư không thể đưa ra những vùng đang thiếu đói.

Bức ảnh chụp trẻ em trong nạn đói năm 1945 của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh, in trên bìa sách "Sự thật về nạn đói năm 1945".

Bức ảnh chụp trẻ em trong nạn đói năm 1945 của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh, in trên bìa sách "Sự thật về nạn đói năm 1945".

Theo Gunn, chính sách thu mua và trưng thu lương thực cưỡng bức dưới cơ chế quản lý của Nhật Bản và chính quyền Pháp Vichy là một trong những nguyên nhân quan trọng đẩy nông dân vào cảnh kiệt quệ. Ông coi đây là một trong những chính sách gây nhiều hệ lụy nhất đối với đời sống nông thôn. Theo các thỏa thuận kinh tế giữa Pháp và Nhật từ năm 1941, chính quyền thuộc địa phải bảo đảm nguồn lương thực cung cấp cho Nhật trong lúc người nông dân tiếp tục phải gánh nhiều khoản thuế và nghĩa vụ khác.

Chiến tranh còn làm mạng lưới vận tải bị gián đoạn, khiến khả năng điều chuyển lương thực giữa Nam Bộ và Bắc Bộ suy giảm nghiêm trọng. Gunn dẫn lại nghiên cứu của Chen công bố năm 1969 cho rằng phía Pháp cũng từng tìm cách trì hoãn việc vận chuyển gạo ra Bắc. Chính sách thu mua cưỡng bức, hệ thống phân phối bất cập, chiến tranh và thiên tai cùng dồn sức ép lên một xã hội nông thôn vốn đã mong manh.

Gunn còn sử dụng khái niệm "khế ước thủy lợi" để phân tích mối quan hệ giữa bộ máy thuộc địa với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Theo cách lý giải này, khả năng duy trì đê điều, thủy lợi và bảo vệ sản xuất trước thiên tai là một phần cơ sở để nhà nước duy trì quyền lực ở nông thôn. Nạn đói năm 1945 cùng sự bất lực trong bảo đảm đời sống đã làm mối quan hệ đó rạn vỡ sâu sắc, tạo thêm điều kiện cho các lực lượng chống thực dân mở rộng ảnh hưởng.

Gunn cũng dẫn quan điểm của nhà kinh tế Amartya Sen cho rằng nạn đói có thể xảy ra ngay cả khi tổng lượng lương thực chưa hoàn toàn cạn kiệt, bởi vấn đề còn nằm ở khả năng tiếp cận và phân phối lương thực.

Trong những tháng đầu năm 1945, nạn đói nhanh chóng trở thành vấn đề xã hội và chính trị cấp bách. Khẩu hiệu "phá kho thóc Nhật" để giải quyết nạn đói do Việt Minh phát động trong cao trào kháng Nhật cứu nước đã gắn yêu cầu giành quyền sống trước mắt của người dân với phong trào đấu tranh cách mạng.

Trong "The Communist Road to Power in Vietnam", nhà sử học William J. Duiker cũng đề cập phong trào "phá kho thóc Nhật" và những cuộc đấu tranh chống nạn đói ở nông thôn Bắc Bộ. Theo đó, nhu cầu sống còn của hàng triệu người đã tạo điều kiện xã hội đặc biệt để Việt Minh tập hợp quần chúng và mở rộng ảnh hưởng trong những tháng trước Tổng khởi nghĩa.

Nạn đói là một trong những nhân tố xã hội quan trọng thúc đẩy cao trào cách mạng năm 1945, tuy nhiên, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của cả quá trình chuẩn bị lâu dài về đường lối, tổ chức, lực lượng, căn cứ cách mạng và xây dựng khối đoàn kết toàn dân cùng khả năng chớp thời cơ khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt thảm họa đói năm 1945 trong hậu quả của chế độ thống trị Pháp và Nhật. Nạn đói trở thành một trong những bằng chứng đau xót nhất về cái giá mà người dân Việt Nam phải trả trong những năm cuối của chế độ thuộc địa và chiến tranh.

Bức tranh nông thôn Bắc Bộ trước đó vốn đã rất mong manh. Các số liệu Geoffrey C. Gunn tập hợp phản ánh sức ép lớn về dân số, đất đai và khả năng bảo đảm lương thực.

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 1: Khát vọng vươn lên trong ngổn ngang - 6

Nạn đói vừa đi qua thì thiên tai tiếp tục giáng xuống miền Bắc. Tháng 8/1945, đúng vào thời điểm cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra, hệ thống đê điều Bắc Bộ chịu một trận lũ lớn, 79 đoạn đê bị vỡ, khoảng 312.000 ha đất bị ngập trên địa bàn 11 tỉnh và đời sống của khoảng 4 triệu người bị ảnh hưởng. Đến ngày 9/10/1945, Báo Cứu Quốc tiếp tục đăng tin về cuộc vận động quyên gạo cứu giúp đồng bào bị nạn nước lụt.

Nạn đói chưa kịp khắc phục thì lũ lụt tiếp tục tàn phá mùa màng. Đó là thực trạng mà chính quyền cách mạng và Bộ Quốc dân Kinh tế, một trong những cơ quan tiền thân của Bộ Công Thương ngày nay phải đối mặt ngay trong những ngày đầu hoạt động.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ký “Những năm tháng không thể nào quên” mô tả tình thế đó rất cụ thể: "Tình hình kinh tế cực kỳ khó khăn. Một phần lớn ruộng đất canh tác ở miền Bắc bỏ hoang. Lụt rồi lại hạn kéo dài. Một số nhà máy do Nhật giao lại chưa thể đưa vào hoạt động. Ngoại thương đình đốn, hàng hóa khan hiếm. Chúng ta chưa phát hành được đồng bạc Việt Nam. Ngân khố tiếp quản từ chế độ cũ tổng cộng chưa đầy một triệu đồng bạc, toàn là giấy rách".

Một chính quyền vừa giành được độc lập phải bắt đầu giữa nạn đói, lũ lụt, sản xuất đình trệ, hàng hóa khan hiếm và một ngân khố gần như trống rỗng. Trong khi đó, Ngân hàng Đông Dương cùng phần lớn hệ thống tiền tệ vẫn nằm ngoài quyền kiểm soát của chính quyền cách mạng.

6 việc cấp bách của chính quyền mới

Chính trong hoàn cảnh đó, tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 6 nhiệm vụ cấp bách. Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi lại Người chỉ mất khoảng nửa giờ để trình bày nhưng những vấn đề khó khăn và phức tạp mà chế độ thuộc địa để lại đều được chỉ ra ngắn gọn, rõ ràng cùng những biện pháp cần triển khai ngay.

Nhiệm vụ đầu tiên là chống đói. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: "Phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói. Trong khi chờ vụ ngô khoai ba bốn tháng nữa mới thu, hãy mở một cuộc lạc quyên gạo. Cứ 10 ngày mọi người nhịn ăn 1 bữa, gạo tiết kiệm được đem chia cho người nghèo".

Trước mắt là huy động lương thực trong xã hội để cứu những người đang đói, về lâu dài, tăng gia sản xuất phải tạo thêm lương thực, khôi phục đời sống và từng bước đưa nền kinh tế trở lại hoạt động.

Nhân dân Hà Nội mít tinh tại Nhà hát Lớn trong tuần lễ cứu đói, tháng 11/1945

Nhân dân Hà Nội mít tinh tại Nhà hát Lớn trong tuần lễ cứu đói, tháng 11/1945

Nhiệm vụ khác được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là giáo dục lại tinh thần nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính và loại bỏ những thói hư tật xấu do chế độ cũ để lại. Đây là yêu cầu xây dựng nền tảng đạo đức và kỷ cương của xã hội mới, hình thành tinh thần lao động, tiết kiệm và trách nhiệm cần thiết cho công cuộc kiến thiết đất nước.

Giữa một nền kinh tế gần như cạn kiệt nguồn lực, 6 nhiệm vụ cấp bách cho thấy chính quyền mới phải xử lý đồng thời những yêu cầu trước mắt và những vấn đề lâu dài. Cứu người khỏi đói là công việc không thể chậm một ngày. Khôi phục sản xuất, gây dựng kỷ cương và tạo lại niềm tin xã hội lại là điều kiện để đất nước có thể đứng vững sau khi giành được độc lập.

Đó cũng là điểm xuất phát của ngành kinh tế và Công Thương trong những ngày đầu lập quốc. Trước khi nghĩ đến mở mang công nghiệp, phát triển thương mại hay xây dựng những cơ sở sản xuất mới, bài toán cấp bách nhất là để người dân có cái ăn, ruộng đồng trở lại sản xuất, nền kinh tế của một quốc gia độc lập từng bước đứng được trên đôi chân của mình. 

Người Việt làm công nghiệp trong khe hẹp

Trong cơ cấu kinh tế thuộc địa do tư bản Pháp chi phối, người Việt muốn làm công nghiệp phải len vào những khe hẹp còn lại. Quy mô phần lớn còn nhỏ, vốn, thiết bị hạn chế nhưng một số doanh nghiệp đã bước ra khỏi phương thức thủ công truyền thống để tổ chức sản xuất theo mô hình công nghiệp.

Đơn cử, Nhà máy sứ Thanh Trì thuộc Công ty Nguyễn Bá Chính và Cie, tiền thân là Công ty Hợp Lợi được thành lập năm 1917 tại làng Thanh Trì, cách cửa ô Hà Nội khoảng 4km. 

Trường hợp khác là Công ty tơ lụa An Nam, tên tiếng Pháp Société Commerciale et Industrielle des Soieries Annamites. Công ty được thành lập năm 1930 với vốn cổ phần 10.000 đồng, xưởng đặt tại làng Yên Phụ và cửa hàng bán sản phẩm ở số 11 phố Nhà Chung, Hà Nội.

Quy mô xưởng thời điểm đó chưa lớn nhưng hệ thống sản xuất đã được tổ chức tương đối rõ. Xưởng có 18 khung dệt kiểu Jacquard, 1 máy se sợi cùng các thiết bị đánh ống, guồng sợi, đo chi số tơ và mắc sợi. Máy móc do người sáng lập tự trang bị, phần lớn vẫn vận hành bằng sức người và đang chờ lắp động cơ. Khoảng 60 thợ làm việc thường xuyên tại đây.

Năm 1931, mẫu khung dệt của công ty tham dự Triển lãm phát minh nhỏ do tạp chí Khoa Học tổ chức và giành giải Nhất. Một xưởng dệt của người Việt còn chịu những ràng buộc của nền kinh tế thuộc địa, vận hành phần lớn bằng sức người đã tự cải tiến công cụ và đưa sản phẩm kỹ thuật dự triển lãm ngay tại Hà Nội.

Tất nhiên, Nhà máy sứ Thanh Trì, Công ty tơ lụa An Nam chưa thể đại diện cho nền công nghiệp bản xứ đủ sức cạnh tranh với tư bản Pháp song đã phần nào giúp nhận diện lớp người Việt đã bắt đầu nghĩ đến sản xuất bằng nhà xưởng, máy móc, kỹ thuật và mô hình doanh nghiệp thay vì chỉ dừng ở buôn bán hoặc nghề thủ công nhỏ lẻ.

Một dòng báo kinh tế và một tủ sách đi trước...

Cùng với những cơ sở sản xuất của người Việt, đời sống báo chí chuyên bàn về kinh tế, thực nghiệp và thương mại cũng hình thành khá sớm. Kho tư liệu số hóa của Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện còn lưu 61 số "Thực nghiệp dân báo", 61 số "Nông Công thương báo" cùng nhiều số "Phú Thọ công thương" và "Mặt trận kinh tế". Những tờ báo bằng chữ Quốc ngữ dành nhiều dung lượng cho chuyện buôn bán, canh nông, kỹ nghệ, thị trường và cách làm ăn của người Việt trong những giai đoạn khác nhau trước năm 1945.

Số báo còn lưu đến hiện nay chưa phản ánh đầy đủ toàn bộ quá trình xuất bản của từng tờ nhưng hiện diện của nhiều nhan đề chuyên về kinh tế cho thấy nhu cầu bàn luận về sản xuất và kinh doanh đã xuất hiện từ khá sớm.

Một dòng báo kinh tế xuất hiện cũng đồng nghĩa đã có người viết và có một lớp độc giả quan tâm đến chuyện làm ăn, kỹ nghệ, canh nông và thương mại bằng chính tiếng Việt. Từ đó có thể thấy báo chí kinh tế Việt Nam đã có nền móng từ hơn hai thập niên trước ngày đất nước giành độc lập.

Công Thương Việt Nam ngày đầu lập quốc - Bài 1: Khát vọng vươn lên trong ngổn ngang - 8

Phía sau báo chí còn là chuyển động về tư tưởng. Năm 1928 tại Huế, học giả, Giáo sư Đào Duy Anh tổ chức Quan Hải tùng thư nhằm phổ biến những kiến thức và tư tưởng mới bằng chữ Quốc ngữ. Trong số các ấn phẩm của tủ sách có Lịch sử các học thuyết kinh tế, giới thiệu với người đọc Việt Nam những vấn đề về lịch sử tư tưởng kinh tế và các học thuyết đang có ảnh hưởng trên thế giới lúc bấy giờ.

Quan Hải tùng thư cũng từng bước giới thiệu những nội dung của chủ nghĩa Mác dưới hình thức sách phổ thông. Trong hồi ký, Đào Duy Anh cho biết sau những cuốn đầu tiên được phép lưu hành, tủ sách tiếp tục giới thiệu các tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác, trong đó phần sau của Lịch sử các học thuyết kinh tế dành cho học thuyết kinh tế của Marx. Những cuốn sách được viết bằng chữ Quốc ngữ, có giá bán và được tổ chức phát hành, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận các tư tưởng kinh tế mới trong xã hội Việt Nam cuối những năm 1920; góp phần tạo nên vốn từ và cách tư duy để người Việt bàn về sản xuất, thương mại, lao động, sở hữu và con đường phát triển kinh tế của chính mình.

17 năm sau khi Quan Hải tùng thư ra đời, khát vọng đi từ sử dụng công cụ tới khả năng tự làm ra công cụ được giới Công Thương tham gia phong trào Công Thương Cứu quốc đoàn năm 1945 đưa lên cấp độ mới khi đặt kỹ nghệ và thương mại trong mối quan hệ trực tiếp với nền độc lập kinh tế của quốc gia. 

Một tuyên ngôn nghề nghiệp sớm của ngành

Năm 1945, Công Thương Cứu quốc đoàn ra đời tại Hà Nội với 3 văn kiện gồm tuyên ngôn, điều lệ và chương trình. Ngay phần mở đầu, bản tuyên ngôn đặt nhiệm vụ của giới Công Thương bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Đoàn quân Giải phóng có nhiệm vụ chiến đấu giữ gìn non sông, còn giới Công Thương có bổn phận xây đắp nền kinh tế quốc gia. Tư tưởng xuyên suốt được cô đọng: "Nền Kinh tế có độc lập mới đảm bảo được nền Chính trị độc lập".

Đặt câu nói đó vào bối cảnh năm 1945 mới thấy hết ý nghĩa. Đất nước vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, sản xuất suy kiệt, ngoại thương đình đốn, ngân khố của chính quyền mới gần như trống rỗng. Giữa hoàn cảnh đó, giới Công Thương tham gia phong trào cứu quốc đã đặt vấn đề độc lập kinh tế bên cạnh độc lập chính trị, xác định sản xuất và kinh doanh là một phần của công cuộc kiến thiết quốc gia.

Công Thương Cứu quốc đoàn cũng sớm đi vào hoạt động. Ngày 13/10/1945, Báo Cứu Quốc đăng thông tin về việc giới Công Thương tập hợp trong Công Thương Cứu quốc đoàn và gia nhập Mặt trận Việt Minh. Đây là một nguồn tư liệu quan trọng xác nhận sự hiện diện của tổ chức trong những ngày đầu của nước Việt Nam độc lập.

Bìa văn kiện Công Thương Cứu quốc Đoàn, Hà Nội năm 1945, tổ chức của giới Công thương Việt Nam trong Mặt trận Việt Minh.

Bìa văn kiện Công Thương Cứu quốc Đoàn, Hà Nội năm 1945, tổ chức của giới Công thương Việt Nam trong Mặt trận Việt Minh. 

Các văn kiện của Đoàn dành một phần lớn dung lượng để nhìn lại phương thức làm ăn của chính giới công thương. Lối kinh doanh riêng lẻ được đặt ra để so sánh với cách giới kỹ nghệ và thương mại Âu, Mỹ liên kết thành các tổ chức nghề nghiệp. Từ đó, nhu cầu liên hợp, hợp tác và tập hợp giới kinh doanh thành lực lượng có tổ chức được đặt ra như một yêu cầu phát triển.

Điều lệ gồm 10 điều quy định phạm vi tham gia khá rộng, không phân biệt nam nữ, xu hướng, tôn giáo hay chính trị, bất cứ người Việt Nam nào chủ trương hoạt động kinh doanh lớn hoặc nhỏ về kỹ nghệ và thương mại, có lòng yêu nước đều có thể gia nhập. Chủ cơ sở sản xuất, nhà buôn và những người kinh doanh ở nhiều quy mô có thể cùng đứng trong một tổ chức.

Quyền của đoàn viên cũng được quy định cụ thể. Bên cạnh đề nghị, thảo luận, biểu quyết, chất vấn và phê bình, đoàn viên có quyền ứng cử vào ban chấp hành của Đoàn, tham gia các cơ quan của Việt Minh theo quy định và cử đại biểu ứng cử vào Quốc dân đại hội. Phạm vi hoạt động của tổ chức đã vượt khỏi những vấn đề kinh doanh thuần túy để gắn với đời sống chính trị và công cuộc xây dựng chính quyền mới.

Chương trình của Công Thương Cứu quốc đoàn được chia thành 3 phần về chính trị, kinh tế và xã hội. Riêng phần kinh tế nêu 3 định hướng lớn gồm mở mang và khuyến khích các ngành kỹ nghệ, thương mại, đi tới một nền kỹ nghệ nặng và cải cách lại việc buôn bán trong nước.

Trong 3 định hướng này, mục tiêu "đi tới một nền kỹ nghệ nặng" đặc biệt đáng lưu ý. Năm 1945, nền sản xuất vừa trải qua những năm chiến tranh với hàng loạt cơ sở đình trệ, ngành khai khoáng giảm mạnh, vốn, thiết bị thiếu thốn, khả năng tự chủ về công nghệ còn rất hạn chế. Ngay trên điểm xuất phát đó, giới Công Thương tham gia phong trào cứu quốc đã đặt ra yêu cầu phát triển nền công nghiệp có khả năng tự chủ cao hơn.

Đặt chương trình này bên cạnh cuộc tranh luận về công nghiệp hóa Đông Dương trong tài liệu của Pháp những năm trước đó càng làm rõ sự khác biệt về mục tiêu. Chính sách thuộc địa nhìn công nghiệp trước hết qua lợi ích của chính quốc và khả năng duy trì thị trường tiêu thụ. Công Thương Cứu quốc đoàn lại đặt kỹ nghệ và thương mại trong bài toán độc lập kinh tế của một quốc gia vừa giành lại chủ quyền.

Phần xã hội của chương trình cũng dành vị trí rõ ràng cho người lao động, tán thành chế độ ngày làm 8 giờ, chủ trương giúp Chính phủ bài trừ nạn thất nghiệp và tham gia các công cuộc cải thiện đời sống thợ thuyền, dân nghèo. Với một tổ chức tập hợp giới kinh doanh, những nội dung này thể hiện nhận thức khá sớm về trách nhiệm của giới Công Thương đối với người lao động và xã hội.

Vốn liếng mỏng, khát vọng lớn

Đó là điểm xuất phát của Công Thương Việt Nam trong những ngày đầu của nước Việt Nam độc lập.

Một nền công nghiệp thuộc địa đã hình thành nhưng cơ cấu sản xuất lệ thuộc sâu vào vốn, thiết bị, nguyên liệu và thị trường bên ngoài rồi tiếp tục bị chiến tranh làm suy kiệt. Nạn đói Ất Dậu cướp đi sinh mạng của hàng triệu người. Những cơ sở sản xuất của người Việt còn ít và quy mô nhỏ nhưng đã xuất hiện những nỗ lực tổ chức nhà xưởng, sử dụng máy móc và cải tiến kỹ thuật. Báo chí bằng chữ Quốc ngữ đã hình thành từ nhiều năm trước cùng những tủ sách đưa kiến thức và tư tưởng kinh tế mới đến với người đọc trong nước.

Trên nền tảng đó, năm 1945 xuất hiện bước chuyển lớn về tư duy, giới Công Thương tham gia Công Thương Cứu quốc đoàn đã đặt chuyện làm ăn của từng cá nhân và từng cơ sở vào bài toán của cả quốc gia: mở mang kỹ nghệ, phát triển thương mại, cải cách thị trường trong nước và từng bước xây dựng một nền kinh tế có khả năng tự chủ.

Vốn liếng vật chất lúc ấy rất hạn hẹp nhưng những vấn đề được đặt ra đã vượt xa nhu cầu trước mắt. Cứu đói, khôi phục sản xuất, mở mang kỹ nghệ, phát triển thương mại và hướng tới nền công nghiệp nặng đều trở thành những phần việc của một quốc gia vừa giành lại quyền tự quyết về vận mệnh của mình.

Đó cũng là hành trang ban đầu của ngành Công Thương khi Bộ Quốc dân Kinh tế bắt đầu hoạt động và Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà (khi đó mới ngoài 30 tuổi) nhận trách nhiệm đứng đầu một bộ kinh tế của nước Việt Nam vừa giành độc lập.

>> Kỳ sau: Vị Bộ trưởng đầu tiên tự nguyện xuống... Thứ trưởng

Lâm Vỹ Sơn - Đại Bàng

Có thể bạn quan tâm