Để làm rõ những kết quả bước đầu cũng như định hướng của Bộ Công Thương trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công - cơ quan thường trực của Bộ Công Thương về Nghị quyết 57/NQ-TW.


Bà Nguyễn Thị Lâm Giang: Triển khai thực hiện Nghị quyết 57/NQ-TW, Bộ Công Thương đã chủ động rà soát, tổng hợp đầy đủ các nhóm nhiệm vụ được giao với 149 nhiệm vụ trong năm 2026, gồm: 36 nhiệm vụ theo Chương trình số 02-CTr/BCĐTW; 19 nhiệm vụ theo Thông báo số 17-TB/CCTTBCĐ; 16 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 11-NQ/CP; 17 nhiệm vụ theo Quyết định số 11/QĐ-BCĐCP; 42 nhiệm vụ theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP và các thông báo, văn bản liên quan; 7 nhiệm vụ theo các Công văn số 939-CV/VPTW, 1734-CV/VPTW; 12 nhiệm vụ theo Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW.
Trên cơ sở đó, Bộ đã ban hành, tổ chức triển khai 4 văn bản trọng tâm: Quyết định số 318/QĐ-BCT ngày 13/2/2026; Quyết định số 596/QĐ-BCT ngày 31/3/2026; Công văn số 2918/BCT-ĐCK ngày 24/4/2026; Quyết định số 536/QĐ-BCT ngày 25/3/2026. Các văn bản này đã tạo khuôn khổ điều hành thống nhất, phân công rõ đầu mối, tiến độ và trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ Nghị quyết 57/NQ-TW trong toàn ngành Công Thương.

Các cuộc họp của Ban Chỉ đạo của Bộ Công Thương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06
Qua kết quả tổng hợp trên hệ thống theo dõi, giám sát (theodoinq.dcs.vn), tính đến ngày 14/5/2026, Bộ Công Thương không có nhiệm vụ quá hạn. Tổng số nhiệm vụ giao (năm 2025 và 2026) là 274 nhiệm vụ, trong đó có 94 nhiệm vụ thường xuyên. Bộ đã hoàn thành 151 nhiệm vụ; 26 nhiệm vụ đang triển khai.
Bộ xác định việc triển khai Nghị quyết 57/NQ-TW không chỉ dừng ở việc hoàn thành các nhiệm vụ theo kế hoạch, mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến thực chất về tư duy quản trị, phương thức điều hành và năng lực đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Công Thương. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để ngành Công Thương thích ứng với xu thế phát triển mới, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang: Trong công tác chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu (CSDL) và tích hợp giấy tờ, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các CSDL chuyên ngành, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước cũng như cung cấp dịch vụ công trên môi trường số. Cùng với đó, nhiều CSDL trọng điểm của ngành đang từng bước được hoàn thiện, tích hợp và đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Trong đó, về cơ sở dữ liệu, CSDL hàng hóa (hóa chất, tiền chất) đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu; đang đối soát với CSDL dân cư để làm sạch dữ liệu, đã được C12 đánh giá phù hợp để tích hợp nhóm dữ liệu về hóa chất, giấy phép hóa chất và sẵn sàng đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia. CSDL kinh tế công nghiệp và thương mại đã hoàn thành tích hợp, sẵn sàng đồng bộ; hiện đang đồng bộ các chỉ tiêu thương mại xuất nhập khẩu, cán cân thương mại hàng hóa theo thị trường, FTA, mặt hàng, lượng, giá, trị giá, tỷ trọng và tăng trưởng.
Về tích hợp giấy tờ lên VNeID, Bộ Công Thương rà soát 41 loại giấy tờ theo Chỉ thị số 24/CT-TTg; trong đó có 1 giấy tờ gắn với cá nhân và 40 giấy tờ gắn với tổ chức. Các giấy tờ đã được ký số khi cấp phép, sẵn sàng khai thác; Bộ dự kiến tích hợp trong quý II và quý III/2026, đồng thời đề nghị C06 hướng dẫn phương thức tích hợp.

Về thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu, Bộ đã hoàn thành tái cấu trúc 162 TTHC, gồm 5 TTHC khai thác CSDL dân cư, 152 TTHC khai thác CSDL đăng ký doanh nghiệp và 5 TTHC khai thác CSDL khác. Hệ thống giải quyết TTHC tập trung của Bộ đã kết nối, sử dụng dữ liệu từ CSDL quốc gia về dân cư và CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cắt giảm thành phần hồ sơ.
Đặc biệt, về cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến, Bộ Công Thương là một trong 9 bộ đã hoàn thành cấu hình mạng từ Agentnode đến điểm kết nối LGSP của Bộ và hoàn thành kiểm thử luồng nghiệp vụ trên môi trường chính thức. Bộ đã cung cấp đầy đủ API để kết nối Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của Bộ với Cổng dịch vụ công quốc gia thông qua nền tảng NDOP; hệ thống đã kết nối, vận hành chính thức từ ngày 1/1/2026.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, hệ thống giải quyết TTHC tập trung tiếp nhận 42.410 hồ sơ, trong đó 42.012 hồ sơ trực tuyến, chiếm khoảng 99,1%; 398 hồ sơ trực tiếp; đã xử lý 22.227 hồ sơ. Bộ đang công khai 511 TTHC trên Cổng dịch vụ công quốc gia, gồm 197 TTHC cấp Bộ, 37 TTHC cấp Bộ và cấp tỉnh, 261 TTHC cấp tỉnh, 16 TTHC cấp xã; đồng thời, đã tích hợp 265 dịch vụ công trực tuyến. Năm 2025, Bộ Công Thương thuộc nhóm 3 bộ, ngành tốt nhất về chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện TTHC, cung cấp dịch vụ công.
Về cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan sản xuất, kinh doanh, Bộ đã trình và được phê duyệt phương án cắt giảm 55,34% TTHC (233/421 TTHC), 30,71% chi phí tuân thủ, 33,18% tổng thời gian giải quyết và 30,4% điều kiện đầu tư kinh doanh (200/658 điều kiện). Đến nay, đã hoàn thành cắt giảm, đơn giản hóa 88 TTHC theo Quyết định số 1643/QĐ-TTg và Quyết định số 2671/QĐ-TTg.
Về phân cấp, phân quyền, Bộ đã hoàn thành phân cấp 43/45 TTHC theo Quyết định số 1015/QĐ-TTg, đạt 95,5%; phân quyền, phân cấp mạnh cho địa phương 208/401 nhiệm vụ, chiếm 52% và 150/486 TTHC, đạt 30,8%. Theo đề xuất mới tại Tờ trình số 2826/TTr-BCT ngày 27/4/2026, số TTHC thuộc thẩm quyền cấp Bộ sau phân cấp còn 148 TTHC, chiếm 28,8%; dự kiến cắt giảm 50,38% chi phí tuân thủ, có thể đạt 65% nếu bãi bỏ thêm các TTHC gắn với 6 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, và cắt giảm 80,47% thời gian giải quyết so với năm 2024.
Bộ cũng đã hoàn thành phương án đơn giản hóa giấy tờ công dân đối với 64/67 TTHC theo Nghị quyết số 100/NQ-CP, đạt 95%; hoàn thành thực thi phương án cắt giảm 17/162 TTHC theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP; xây dựng phương án đối với 94/264 TTHC nội bộ, đạt 35,6%, trong đó đã thực thi cắt giảm, đơn giản hóa 22 TTHC nội bộ thuộc lĩnh vực dầu khí.


Bà Nguyễn Thị Lâm Giang: Nghị quyết 57-NQ/TW đã nêu rõ yêu cầu: Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ban hành chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược; có cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ chiến lược…
Thực hiện Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026, Bộ Công Thương đã làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ; các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp trong ngành Công Thương, các viện, trường trong và ngoài Bộ, các tổ chức hiệp hội công nghiệp và doanh nghiệp để rà soát, đề xuất bài toán lớn, công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với bài toán lớn trong các ngành/lĩnh vực.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh ngành Công Thương
Đồng thời, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ các Quyết định: Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 về việc giao nhiệm vụ phát triển công nghiệp chiến lược.
Theo đó, Bộ Công Thương đã đề xuất 3 bài toán lớn gắn với mục tiêu phát triển của 3 lĩnh vực trụ cột của ngành, gồm: (1) Về năng lượng: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ; (2) Về công nghiệp: Tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao; (3) Về thương mại: Hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy. Đồng thời, cụ thể hóa các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với từng bài toán lớn để chuyển Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt.
Để triển khai ngay trong năm 2026, Bộ đã đề xuất 3 nhiệm vụ triển khai công nghệ chiến lược gồm: Bản sao số (Digital Twin) cho hệ thống điều hành lưới điện quốc gia; sản phẩm thiết bị đóng cắt điện áp 22kV-500kV: Dao cách ly, Recloser, LBS, tủ hợp bộ Eco-GIS/GIS; robot công nghiệp hai tay - chương trình điều khiển nội địa.
Ngoài ra, Bộ đang chuyển hướng hỗ trợ đổi mới sáng tạo theo chuỗi cung ứng, ngành trọng điểm và bài toán lớn của doanh nghiệp. Ba trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp cấp vùng đang được triển khai: Trung tâm phía Bắc dự kiến vận hành quý II/2026; Trung tâm phía Nam đang thực hiện chuyển giao về Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành chậm nhất ngày 1/7/2026; Trung tâm miền Trung đang nghiên cứu phương án thành lập gắn với cơ sở đào tạo kỹ thuật của Bộ. Bộ cũng đã tiếp nhận 26 đề xuất nhiệm vụ từ 17 đơn vị theo Công văn số 719/BCT-ĐCK ngày 2/2/2026, ưu tiên mô hình hợp tác 3 nhà.


Bà Nguyễn Thị Lâm Giang: Thực tiễn triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW cho thấy, khối lượng nhiệm vụ lớn, đa ngành, yêu cầu cao và thời hạn gấp, trong khi nhân lực đầu mối về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cán bộ chuyên môn chưa được bổ sung kịp thời; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng còn hạn chế. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính bố trí cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn hạn chế, cơ chế phân bổ, điều hành kinh phí thiếu linh hoạt, ảnh hưởng đến các nhiệm vụ chiến lược, liên ngành và mô hình thí điểm.
Cơ chế Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn vướng mắc trong thực thi, cần rà soát tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả. Việc triển khai công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược còn thiếu phân công đầu mối rõ ràng, tiêu chí xác định nhiệm vụ, quy trình và thẩm quyền cụ thể; các bộ, ngành còn hạn chế tính chủ động trong đặt hàng, tổ chức thực hiện.

Hoạt động ứng dụng công nghệ mới, hiện đại trong ngành công nghiệp
Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật, năng lực nghiên cứu, tư vấn, chuyển giao công nghệ của các viện nghiên cứu và trường đại học thuộc Bộ chưa được đầu tư tương xứng. Hạ tầng số và dữ liệu còn điểm nghẽn: thiếu hướng dẫn tích hợp giấy tờ vào VNeID, chưa rõ lộ trình sử dụng Trung tâm dữ liệu quốc gia; các CSDL của Bộ đã sẵn sàng kỹ thuật nhưng cần Bộ Công an hỗ trợ làm sạch, đối soát trước khi đồng bộ.
Theo đó, để việc triển khai Nghị quyết 57/NQ-TW trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn và tạo chuyển biến rõ nét hơn trong thực tiễn, cơ quan thường trực đề xuất một số giải pháp trọng tâm:
Một là, sớm có cơ chế cụ thể nhằm bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức; có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài; tổ chức đào tạo, đào tạo lại cho đội ngũ làm công tác khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại các bộ, ngành, địa phương.
Hai là, ưu tiên bổ sung, tăng tỷ trọng ngân sách nhà nước cho hoạt động hoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Bộ Công Thương trong năm 2026, tương xứng với vai trò bộ quản lý đa ngành và yêu cầu triển khai các nhiệm vụ nền tảng, dữ liệu, công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược.
Ba là, sớm rà soát quy định về Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Luật số 93/2025/QH15, Nghị định số 265/2025/NĐ-CP và Thông tư số 17/2026/TT-BKHCN để bảo đảm đồng bộ, khả thi hơn.
Bốn là, phân công rõ trách nhiệm chủ trì triển khai các sản phẩm công nghệ chiến lược theo phạm vi quản lý ngành; bổ sung quy định về nội dung nhiệm vụ, trách nhiệm các bộ, ngành; nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 267/2025/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn để tăng tính chủ động; đồng thời cụ thể hóa tiêu chí, phương thức và thẩm quyền xác định công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược.





