Tái chế chất thải công nghiệp để tạo vật liệu xanh
Xu hướng phát triển vật liệu xây dựng xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu trong tiến trình chuyển đổi xanh của ngành công nghiệp và xây dựng. Không chỉ đáp ứng yêu cầu về môi trường, các dòng vật liệu mới còn phải đáp ứng tiêu chí sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải carbon và phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn.
Theo lộ trình quản lý mới, từ ngày 01/01/2026, Việt Nam chính thức bắt buộc dán nhãn năng lượng cho nhóm vật liệu xây dựng theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Trong xu hướng đó, việc tái chế tro xỉ nhiệt điện, thạch cao hóa chất, xỉ thép hay các loại chất thải công nghiệp để sản xuất vật liệu xanh đang mở ra hướng đi mới cho ngành công nghiệp vật liệu xây dựng. Đây không chỉ là giải pháp xử lý môi trường mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng bền vững.
Theo các chuyên gia trong ngành, lượng tro xỉ phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện, hóa chất hiện nay rất lớn. Nếu không được xử lý, tái sử dụng hiệu quả sẽ tạo áp lực lớn lên môi trường và quỹ đất dành cho bãi chứa. Trong khi đó, nếu ứng dụng công nghệ phù hợp, nguồn chất thải này hoàn toàn có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho nhiều dòng vật liệu xây dựng mới.

Ông Kiều Văn Mát - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường. Ảnh: P.C
Trao đổi với Báo Công Thương, ông Kiều Văn Mát - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường cho rằng xu hướng phát triển xanh hiện nay là xu thế chung của thế giới và cũng phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam. Vật liệu xanh không đơn thuần là sản phẩm thân thiện môi trường mà còn phải đáp ứng các tiêu chí về tiết kiệm tài nguyên, tái sử dụng chất thải công nghiệp và sử dụng năng lượng hiệu quả trong quá trình vận hành công trình.
Hiện nay, Sông Đà Cao Cường là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong nghiên cứu và phát triển công nghệ xử lý tro xỉ nhiệt điện, thạch cao của các nhà máy hóa chất, nhiệt điện, xỉ thép để sản xuất các dòng vật liệu xây dựng xanh.
“Muốn làm được điều đó cần có công nghệ, có nguồn lực và sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học với doanh nghiệp để nghiên cứu, xử lý tốt các loại chất thải công nghiệp. Từ đó tiếp tục giải quyết bài toán theo chuỗi kinh tế tuần hoàn”, ông Kiều Văn Mát chia sẻ.
Theo doanh nghiệp này, sau quá trình xử lý, các nguồn chất thải công nghiệp tiếp tục được đưa vào sản xuất bê tông khí chưng áp, panel nhẹ, vật liệu không nung nhẹ và nhiều dòng vật liệu mới khác. Các sản phẩm này vừa giúp tận dụng chất thải công nghiệp, vừa tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất vật liệu xây dựng truyền thống.
Đáng chú ý, các dòng vật liệu nhẹ hiện nay đang được thị trường quan tâm nhờ khả năng cách âm, cách nhiệt, giảm hấp thụ nhiệt và tiết kiệm điện năng trong quá trình sử dụng công trình. Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng đối với vật liệu xây dựng trong bối cảnh yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngày càng được siết chặt.
Theo ông Kiều Văn Mát, các dòng vật liệu nhẹ, bê tông khí chưng áp hiện nay có khả năng hỗ trợ giảm nhiệt cho công trình, từ đó hạn chế nhu cầu sử dụng điều hòa và hệ thống làm mát. Điều này giúp giảm tiêu thụ điện năng và phù hợp với xu hướng phát triển công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng.
Không chỉ phục vụ thị trường trong nước, một số sản phẩm vật liệu xanh của doanh nghiệp hiện đã tham gia thị trường xuất khẩu. Đây được xem là tín hiệu tích cực trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu cao đối với sản phẩm phát thải thấp, thân thiện môi trường và đáp ứng tiêu chuẩn carbon.
Công nghệ là yếu tố sống còn của doanh nghiệp vật liệu xanh
Dù tiềm năng thị trường lớn, song phát triển vật liệu xanh vẫn là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, đặc biệt là đầu tư cho khoa học công nghệ và nghiên cứu phát triển.
Theo ông Kiều Văn Mát, bài toán lớn nhất đối với doanh nghiệp hiện nay là vừa phải đầu tư cho công nghệ, vừa phải bảo đảm hiệu quả kinh tế để sản phẩm có thể cạnh tranh trên thị trường. “Không có tài chính thì rất khó triển khai công nghệ. Trong hoạt động của doanh nghiệp, chúng tôi phải xây dựng quy trình, công nghệ và các giải pháp đồng bộ để tạo ra sản phẩm có thể được thị trường chấp nhận”, ông nói.

Sản phẩm bê tông chưng áp của Sông Đà Cao cường sử dụng tro xỉ của nhà máy nhiệt điện để sản xuất. Ảnh: Thu Hường
Theo doanh nghiệp này, điểm khó nhất không chỉ nằm ở công nghệ xử lý chất thải công nghiệp mà còn ở việc thương mại hóa sản phẩm. Bởi để vật liệu xanh được thị trường chấp nhận, sản phẩm phải đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Trong nhiều năm qua, Sông Đà Cao Cường liên tục đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng khả năng ứng dụng vật liệu xanh. Hàng năm, doanh nghiệp đều trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ theo quy định, đồng thời dành thêm nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và cải tiến sản phẩm.
Theo ông Kiều Văn Mát, trung bình mỗi năm doanh nghiệp dành vài chục tỷ đồng cho công tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Đây được xem là khoản đầu tư bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn duy trì năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn.
“Đối với doanh nghiệp vật liệu xanh, công nghệ là yếu tố sống còn, nếu không làm chủ được công nghệ thì không thể tạo ra năng lực cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn”, ông Kiều Văn Mát nhấn mạnh.
Thực tế cho thấy, trong bối cảnh các tiêu chuẩn về phát thải carbon, sử dụng năng lượng tiết kiệm và sản xuất xanh ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc của thị trường, doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cũng đứng trước áp lực phải thay đổi công nghệ và mô hình sản xuất.
Việc thúc đẩy tái chế chất thải công nghiệp để sản xuất vật liệu xanh không chỉ góp phần xử lý bài toán môi trường mà còn tạo thêm dư địa phát triển cho ngành công nghiệp vật liệu xây dựng theo hướng giá trị gia tăng cao hơn. Đây cũng là hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất sạch hơn, tiêu dùng bền vững và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các công trình xây dựng. Trong dài hạn, vật liệu xanh được dự báo sẽ trở thành một trong những động lực quan trọng của quá trình chuyển đổi xanh trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tại Việt Nam.




