Khai mở những giá trị mới từ kinh tế biển
Biển Việt Nam không chỉ sở hữu nguồn tài nguyên phong phú mà còn chứa đựng những giá trị kinh tế lớn từ hệ sinh thái, không gian biển và nguồn tri thức, dữ liệu. Đây là những tiềm năng chưa được khai thác tương xứng, có thể trở thành động lực mới cho phát triển kinh tế biển.
Đặc biệt, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, phát huy hiệu quả các nguồn lực và mở rộng không gian phát triển.
Trên tinh thần đó, việc đổi mới tư duy quản lý, quy hoạch không gian biển hợp lý, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và hệ sinh thái càng trở nên quan trọng, nhằm chuyển hóa tiềm năng biển thành những động lực tăng trưởng xanh, bền vững. Chia sẻ tại tọa đàm “Phát huy lợi thế biển trong hành trình tăng trưởng xanh” diễn ra mới đây, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang, Trưởng khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, những tiềm năng của biển Việt Nam có thể tiếp tục khai thác, phát huy trong thời gian tới tập trung vào 3 nguồn chính.
Thứ nhất, giá trị của các hệ sinh thái biển và ven biển. “Chẳng hạn như rừng ngập mặn, rạn san hô hay các thảm cỏ biển. Ngoài giá trị về bảo tồn, những hệ sinh thái này còn tạo ra rất nhiều giá trị khác mà chúng ta gọi là dịch vụ hệ sinh thái. Ví dụ, các hệ sinh thái biển và ven biển có vai trò trong phòng, chống thiên tai, duy trì nguồn lợi thủy sản và hỗ trợ phát triển du lịch. Đây đều là những giá trị rất quan trọng đối với đời sống và hoạt động kinh tế”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang cho hay.
PGS.TS Nguyễn Tiền Giang, Trưởng khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
Theo PGS.TS Nguyễn Tiền Giang, trước đây, chúng ta thường chưa đặt những nguồn tài nguyên này vào vị trí trọng tâm trong phát triển kinh tế, bởi nhiều giá trị rất khó quy đổi thành tiền. Tuy nhiên, trong xu hướng phát triển hiện nay, các nhà khoa học đã từng bước nghiên cứu, lượng hóa những giá trị đó bằng các phương pháp kinh tế. Trong đó, một số giá trị như dịch vụ hệ sinh thái hay giá trị văn hóa cũng có thể được xem xét, đánh giá riêng. “Ngoài ý nghĩa bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái biển và ven biển còn có thể mang lại những giá trị kinh tế đáng kể. Đây là một trong những nguồn tiềm năng cần được quan tâm khai thác, phát huy trong thời gian tới”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang nhấn mạnh.
Thứ hai, giá trị của không gian biển. Trước đây, do những hạn chế về điều kiện và trình độ khoa học, công nghệ, khả năng vươn khơi và khai thác không gian biển còn hạn chế. Tuy nhiên, hiện nay, với sự phát triển ngày càng tiên tiến của khoa học, công nghệ, chúng ta đã có thêm điều kiện để làm chủ và khai thác hiệu quả hơn không gian biển.
PGS.TS Nguyễn Tiền Giang cho rằng, trên cùng một không gian biển, có thể phát triển nhiều ngành nghề, nhiều hoạt động kinh tế khác nhau. Chẳng hạn, bên cạnh những ngành truyền thống như khai thác thủy sản, du lịch biển và nuôi biển, còn có thể phát triển các ngành kinh tế mới. “Một trong những lĩnh vực có nhiều tiềm năng là điện gió ngoài khơi. Đây là ngành kinh tế có khả năng tận dụng nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo và mở rộng giá trị khai thác không gian biển. Không gian biển là nguồn lực có giá trị rất quan trọng. Nếu biết tổ chức khai thác và quy hoạch một cách hợp lý, chúng ta có thể phát triển nhiều hoạt động kinh tế trên cùng một không gian, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tạo ra những giá trị mới”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang đánh giá.
Đại diện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên cho rằng, quy hoạch không gian biển sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng trong thời gian tới. Đây là cơ sở để tổ chức các hoạt động kinh tế một cách hợp lý, khai thác hiệu quả tiềm năng và bảo đảm sự phát triển bền vững.
Thứ ba, giá trị của tri thức và dữ liệu về biển. Đây là nguồn lực rất quan trọng nhưng hiện nay vẫn chưa được khai thác và phát huy tương xứng. Đến nay, chúng ta vẫn chưa có được một nền tảng dữ liệu về biển thực sự đầy đủ, có chuỗi số liệu đủ dài và chất lượng tốt. Tuy nhiên, những tri thức, kết quả nghiên cứu và số liệu về biển đã được tích lũy trong nhiều năm qua đang nằm ở các nhà khoa học, cơ sở nghiên cứu và trường đại học. “Nếu biết tập hợp, kết nối, khai thác và chuyển hóa những tri thức, dữ liệu này, chúng ta hoàn toàn có thể biến chúng thành một nguồn tài sản có giá trị rất lớn. Bởi khi hiểu rõ hơn về đặc điểm, điều kiện tự nhiên, tài nguyên và những biến động của một vùng biển, chúng ta sẽ có cơ sở để tổ chức khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên và định hướng phát triển bền vững. Khi đó, giá trị kinh tế mang lại từ không gian biển cũng sẽ được nâng lên đáng kể”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang nhận định.
Phát triển kinh tế biển gắn với môi trường
Từ những tiềm năng trên, có thể thấy dư địa phát triển kinh tế biển Việt Nam còn rất lớn, đặc biệt khi các giá trị về hệ sinh thái, không gian biển và nguồn tri thức, dữ liệu được khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, việc mở rộng các hoạt động kinh tế cũng đặt ra yêu cầu quản lý chặt chẽ, bảo đảm sự cân bằng giữa khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển.
PGS.TS Nguyễn Tiền Giang nêu 3 vấn đề quan trọng cần quan tâm để phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển.
Những giá trị từ hệ sinh thái, không gian biển và dữ liệu đang mở ra dư địa phát triển kinh tế biển, góp phần tạo động lực tăng trưởng xanh, bền vững.
Một là, cần tránh cách quản lý từng hoạt động kinh tế riêng lẻ mà phải xem xét tổng hợp các áp lực, tác động lên một vùng biển và hệ sinh thái của vùng biển đó. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi trên cùng một vùng biển có thể diễn ra nhiều hoạt động kinh tế khác nhau như du lịch, hàng hải, nuôi biển, khai thác cảng biển. Bên cạnh đó còn có các hoạt động ven bờ như phát triển đô thị, khu công nghiệp ven biển. Mỗi hoạt động đều có những tác động nhất định đến môi trường và hệ sinh thái biển. “Vì vậy, chúng ta cần đánh giá tổng hợp tác động của tất cả các hoạt động này lên cùng một vùng biển, thay vì chỉ xem xét riêng lẻ từng ngành, từng lĩnh vực. Trên cơ sở đó, quy hoạch không gian biển có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, phân bổ các hoạt động phát triển kinh tế một cách hợp lý, bảo đảm môi trường biển không bị suy thoái và tài nguyên không bị cạn kiệt”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang thông tin.
Hai là, cần xác định rõ các giới hạn môi trường phải duy trì trong quá trình phát triển kinh tế biển. Điều này có nghĩa là phải đánh giá được khả năng chịu đựng của môi trường và hệ sinh thái trước những tác động từ các hoạt động kinh tế.
Chẳng hạn, đối với hoạt động nuôi biển, cần xác định mật độ nuôi phù hợp, lượng dinh dưỡng dư thừa và các chất ô nhiễm thải ra môi trường. Từ đó, có thể xác định những giới hạn mà môi trường biển có khả năng tiếp nhận, chịu đựng, làm cơ sở để tổ chức hoạt động nuôi trồng một cách hợp lý.
Tương tự, đối với hoạt động du lịch biển, cần đánh giá những tác động có thể xảy ra đối với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, thảm cỏ biển và những thành phần quan trọng khác của môi trường biển. “Việc xác định rõ các giới hạn này sẽ giúp chúng ta lựa chọn quy mô, mật độ và phương thức phát triển các hoạt động kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng biển, hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang nhấn mạnh.
Ba là, cần đặc biệt coi trọng công tác quan trắc và giám sát môi trường biển. Theo đại diện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, bảo vệ môi trường cũng như xác định và duy trì các giới hạn môi trường đều phải gắn liền với hoạt động quan trắc.
Thông qua hệ thống quan trắc, có thể thường xuyên theo dõi, đánh giá chất lượng môi trường biển và tình trạng của các hệ sinh thái. Đây là cơ sở quan trọng để nhận diện những biến động, phát hiện sớm các dấu hiệu suy thoái và kịp thời đưa ra giải pháp phù hợp. “Nếu số liệu quan trắc cho thấy chất lượng môi trường hoặc tình trạng của các hệ sinh thái biển đang có chiều hướng suy giảm, chúng ta phải có ngay những biện pháp can thiệp, điều chỉnh các hoạt động phát triển kinh tế có liên quan”, PGS.TS Nguyễn Tiền Giang chỉ ra.
Có thể thấy, phát triển kinh tế biển bền vững không chỉ đòi hỏi khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên, mà còn phải phát huy đầy đủ giá trị của hệ sinh thái, không gian biển và nguồn tri thức, dữ liệu. Những yêu cầu về quy hoạch tổng hợp, kiểm soát sức chịu tải của môi trường và tăng cường quan trắc, giám sát cũng chính là những điều kiện quan trọng để chuyển hóa tiềm năng biển thành động lực tăng trưởng lâu dài.
Khai thác hiệu quả tiềm năng biển, phát huy giá trị hệ sinh thái, không gian biển và nguồn tri thức, dữ liệu sẽ tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Đây là hướng đi phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW, góp phần hình thành nền kinh tế biển hiện đại, xanh, bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường và các hệ sinh thái biển.