An ninh nguồn nước trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn

Nguồn nước suy giảm, hồ chứa có nguy cơ thiếu tích nước và xâm nhập mặn gia tăng đang đặt ra yêu cầu chủ động ứng phó, bảo đảm nước cho dân sinh và sản xuất.

Thông tin được đưa ra tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra sáng 16/9.

Nguồn nước suy giảm, rủi ro lan rộng

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có nguồn tài nguyên nước mặt tương đối dồi dào, với khoảng 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10 km trở lên, tổng lượng dòng chảy hằng năm khoảng 844 tỷ m³. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều theo không gian và thời gian, trong khi khoảng 60% tổng lượng nước trung bình hằng năm đến từ ngoài biên giới. Mùa cạn tại Việt Nam thường kéo dài 7-9 tháng nhưng chỉ chiếm khoảng 20-40% lượng dòng chảy cả năm. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn. Hiện cả nước có khoảng 96.500 công trình khai thác, sử dụng nước, với tổng nhu cầu của các ngành khoảng 117 tỷ m³/năm.

Họp báo thường kỳ Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra sáng 16/9.

Họp báo thường kỳ Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra sáng 16/9.

Trong bối cảnh đó, diễn biến nguồn nước năm 2026 đang cho thấy những dấu hiệu đáng lưu ý. Từ tháng 5, nguồn nước trên nhiều sông, suối bắt đầu chịu ảnh hưởng của El Niño và có xu thế thấp hơn trung bình nhiều năm. Giai đoạn tháng 6-8, dòng chảy trên phần lớn các sông, suối thuộc 12 lưu vực sông lớn thấp hơn 10-75% so với trung bình nhiều năm. Dự báo lượng mưa có thể thiếu hụt 10-40%, trong khi xâm nhập mặn có khả năng xuất hiện sớm và lấn sâu. Xu hướng thiếu hụt nguồn nước hiện nay có những nét tương đồng với diễn biến trong các năm 2015 và 2019, những năm chịu ảnh hưởng rõ của El Niño.

Điều đáng quan tâm là rủi ro không chỉ xuất hiện trên các dòng sông mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng tích nước của hệ thống hồ chứa. Với lượng dòng chảy thiếu hụt trong mùa lũ, đặc biệt tại miền Trung, Tây Nguyên và lưu vực Đồng Nai, nguy cơ nhiều hồ không tích đủ nước cho mùa cạn đang hiện hữu. Theo đánh giá, 100% hồ thủy điện lớn được rà soát có nguy cơ không tích đủ nước, tổng dung tích thiếu hụt khoảng 7,73-11 tỷ m³. Trong đó, 32/43 hồ có mức thiếu hụt so với thiết kế từ 15-80%, tập trung tại các lưu vực Hồng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Sê San và Đồng Nai.

Đối với hồ thủy lợi, khoảng 65% có nguy cơ không tích đủ nước theo thiết kế. Khoảng 40% trong số 189 hồ được rà soát có mức thiếu hụt từ 20-87%, tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên và ven biển Nam Trung Bộ. Nếu bước vào mùa cạn với dung tích hồ thấp, trong khi dòng chảy tiếp tục suy giảm, áp lực lên nguồn nước sẽ gia tăng đồng thời ở nhiều lĩnh vực.

Chủ động tích nước, phân phối nguồn nước từ sớm

Tại nhóm lưu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, dù hệ thống thủy lợi tương đối đồng bộ và có các hồ chứa lớn, dòng chảy suy giảm vẫn có thể ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ khoảng 29 triệu dân và khoảng 800.000 ha sản xuất nông nghiệp. Xâm nhập mặn có thể lấn sâu khoảng 32 km trên sông Cả và 28-30 km trên sông Mã.

Đối với sản xuất điện, nguy cơ thiếu nước tại các hồ thủy điện cũng đặt ra yêu cầu cân đối giữa phát điện và duy trì nguồn nước cho hạ du. Một số sông có mức suy giảm dòng chảy đáng kể như sông Chu 56,4%, sông Đà 47,3% và sông Cả 46,8%.

Tại Duyên hải Nam Trung Bộ, mức độ dễ tổn thương cao hơn do địa hình sông ngắn, dốc, mùa khô kéo dài và khả năng trữ, điều tiết nước còn hạn chế. Dòng chảy sông Kôn được đánh giá có thể giảm 72,8%, sông Ba 67,5% và sông Thu Bồn 52,8% so với trung bình nhiều năm. Nguồn nước suy giảm có thể ảnh hưởng đến cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và hoạt động tại các khu kinh tế, khu công nghiệp. Xâm nhập mặn tại hạ lưu cũng có thể tác động đến khả năng khai thác nước.

Tây Nguyên là một trong những khu vực chịu sức ép lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ chủ động nước đối với cây lâu năm chỉ khoảng 17-19%, khiến nhiều diện tích phụ thuộc vào ao hồ nhỏ, sông suối và nước dưới đất. Khi lượng mưa và dòng chảy suy giảm, nguy cơ thiếu nước tưới cho cây công nghiệp, cây lâu năm sẽ gia tăng.

Trong khi đó, lưu vực Đồng Nai có chỉ số căng thẳng nguồn nước mùa cạn cao nhất cả nước. Đây là khu vực có nhu cầu lớn cho sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ. Hệ thống cấp nước đô thị có tổng công suất khoảng 5,21 triệu m³/ngày đêm, trong đó 91% công suất phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào nguồn nước từ các hồ chứa thượng lưu.

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, thách thức lớn nhất nằm ở sự phụ thuộc vào nguồn nước thượng lưu. Lưu vực Cửu Long phụ thuộc gần 95% vào nguồn nước từ phía thượng lưu sông Mê Công, trong khi khu vực hạ lưu gần như không có hồ chứa lớn để điều tiết. Nếu dòng chảy sông Tiền, sông Hậu giảm 40-60%, kết hợp xâm nhập mặn 4 g/l vào sâu 40-70 km, nguy cơ thiếu nước cả về số lượng và chất lượng sẽ gia tăng, nhất là tại các vùng ven biển.

Trước nguy cơ hạn hán và thiếu nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, yêu cầu quan trọng là phải chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang chủ động quản trị nguồn nước theo từng lưu vực sông. Trước hết, cần tăng cường theo dõi, cập nhật dự báo khí tượng thủy văn, nhất là tại miền Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Dự báo phải gắn với cảnh báo cụ thể tới từng khu vực có nguy cơ thiếu nước để các ngành và địa phương có thời gian điều chỉnh kế hoạch sử dụng nước.

Việc tích nước tại các hồ thủy lợi, thủy điện cần được tính toán ngay trong mùa lũ. Các hồ chứa phải được vận hành linh hoạt, vừa bảo đảm an toàn hạ du, phòng chống lũ, vừa tận dụng khả năng tích nước cho mùa cạn trên cơ sở diễn biến thực tế của nguồn nước. Đối với các hồ thuộc quy trình vận hành liên hồ, cần xem xét tích nước sớm phù hợp với từng lưu vực. Với các hồ thủy lợi ngoài quy trình liên hồ, địa phương cần rà soát phạm vi cấp nước, xác định những công trình có vai trò điều tiết quan trọng để chủ động phương án tích nước.

Một giải pháp quan trọng khác là sớm công bố kịch bản nguồn nước trên các lưu vực sông. Kịch bản này là cơ sở để xây dựng phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước khi lưu vực được xác định ở trạng thái thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng.

Nguồn nước dưới đất cũng cần được xem xét như một nguồn dự phòng trong các tình huống cực đoan. Cùng với đó, cần tính toán phương án điều chỉnh chế độ khai thác nước ở hạ du các hồ thủy điện, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát điện và cấp nước cho dân sinh, sản xuất. Về năng lượng, cần chuẩn bị phương án huy động linh hoạt các nguồn điện khác để giảm áp lực phải sử dụng nước cho phát điện trong những thời điểm nguồn nước khan hiếm.

Khi rủi ro được nhận diện từ sớm và nguồn nước được điều hòa theo từng lưu vực, khả năng giảm thiểu tác động của hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn sẽ chủ động hơn, thay vì chờ đến khi thiếu nước mới triển khai các biện pháp ứng phó.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm