Thành phố Huế trước bài toán an ninh năng lượng - Kỳ 1: Thủy điện trước sức ép nguồn nước

Mực nước xuống thấp, dòng chảy về hồ suy giảm mạnh đang đặt nhiều nhà máy thủy điện tại TP. Huế trước bài toán ngày càng khó: vừa duy trì phát điện, vừa giữ nước cho hạ du.

Đằng sau những khoảng đất trơ ra ven lòng hồ là vấn đề gây nhiều trăn trở, đó là sức chống chịu của hệ thống năng lượng trước những biến động ngày càng cực đoan của khí hậu.

Hồ thủy điện giảm nước 

Những ngày cuối tháng 7/2026, trên các hồ thủy điện Hương Điền, Bình Điền (thành phố Huế), dấu hiệu của một mùa khô khắc nghiệt hiện lên khá rõ.

Từ thân đập nhìn về phía thượng nguồn, những dải đất ven hồ và một phần sườn núi vốn chìm dưới nước nay lộ rõ. Điều này cho thấy sự suy giảm đáng kể của dòng chảy, yếu tố quyết định khả năng vận hành của các nhà máy thủy điện.

Mực nước hồ thủy điện Hương Điền hạ thấp, nhiều khu vực phía thượng nguồn và sườn núi ven hồ đã lộ ra thấy rõ.

Mực nước hồ thủy điện Hương Điền hạ thấp, nhiều khu vực phía thượng nguồn và sườn núi ven hồ đã lộ ra thấy rõ.

Tại thủy điện Hương Điền, cuối tháng 7/2026, mực nước hồ ở cao trình khoảng 48,70m, chỉ cao hơn mực nước chết khoảng 2,7m; dung tích hữu ích còn khoảng 70 triệu m³. Đáng chú ý, lưu lượng nước về hồ trung bình tháng 6/2026 chỉ đạt 18,5m³/s, có thời điểm chưa tới 5m³/s, thấp nhất trong chuỗi thủy văn quan trắc từ năm 1977 đến nay.

Ông Nguyễn Duy Hải, Quản đốc Phân xưởng Sản xuất, Phó Ban thường trực Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn (PCTT&TKCN) Công ty Cổ phần Thủy điện Hương Điền cho biết, thiếu hụt nguồn nước ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát điện. Nếu khô hạn tiếp tục gia tăng và kéo dài, nhà máy có khả năng không đáp ứng sản lượng điện được Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giao.

Trong điều kiện đó, phương thức vận hành cũng phải thay đổi. Thuỷ điện Hương Điền chủ động luân phiên, rút ngắn thời gian duy tu, bảo dưỡng định kỳ các tổ máy để luôn duy trì trạng thái sẵn sàng khi hệ thống cần huy động", ông Hải cho biết.

Cũng giống như Hương Điền, câu chuyện tương tự cũng xảy ra tại hồ thủy điện Bình Điền.

Tại thời điểm phóng viên ghi nhận đầu tháng 8/2026, mực nước hồ ở mức 61,8m, trong khi mực nước dâng bình thường là 85m; lưu lượng nước về hồ trung bình chỉ khoảng 4m³/s. Cuối tháng 7/2025, mực nước hồ còn ở mức 82m, lưu lượng nước về trung bình khoảng 24m³/s. Lượng nước năm 2026 thiếu hụt so với năm trước khoảng 235 triệu m³.

Ông Nguyễn Quang Hải, Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy điện Bình Điền nhận định, dù chưa tới mức “hạn hán lịch sử”, khô hạn năm nay vẫn đặt ra thách thức rất lớn do mưa trái mùa phân bố không đều, dòng chảy tự nhiên về hồ suy giảm đáng kể.

"Nguồn nước thấp buộc nhà máy chuyển phương thức vận hành sang trạng thái linh hoạt, tiết kiệm, tối ưu hóa”. Có thời điểm Bình Điền phải giảm phát điện để ưu tiên tích nước phục vụ yêu cầu vận hành liên hồ chứa", ông Hải nói.

Những khoảng đất ven hồ thủy điện Bình Điền lộ rõ khi mực nước xuống thấp.

Những khoảng đất ven hồ thủy điện Bình Điền lộ rõ khi mực nước xuống thấp.

Nhìn rộng ra toàn địa bàn, đây không phải câu chuyện riêng của hai nhà máy. Theo Sở Công Thương TP. Huế, trong 7 tháng đầu năm 2026, lưu lượng nước về các hồ thủy điện nhìn chung xấp xỉ cùng kỳ năm 2023 và 2024 nhưng giảm khoảng 40–50% so với năm 2025. Tại hồ Tả Trạch, lưu lượng giảm từ 49,77m³/s xuống 26,89m³/s; Bình Điền từ 31,8m³/s xuống 10,2m³/s; A Lưới từ 29,8m³/s xuống 11,7m³/s.

Những con số này càng đáng chú ý bởi thủy điện đang giữ vai trò đặc biệt trong nguồn điện sản xuất tại chỗ của Huế. Theo số liệu Sở Công Thương cung cấp, trên địa bàn hiện có 13 nhà máy thủy điện với tổng công suất 459,3MW; thủy điện chiếm khoảng 90% sản lượng điện sản xuất trên địa bàn.

Điều đó đồng nghĩa rằng biến động thủy văn không còn chỉ là một câu chuyện môi trường mà đã trở thành một biến số trực tiếp của sản xuất năng lượng.

Nhận thức này cũng đã được thể hiện trong định hướng quản lý của thành phố. Trong đó, Kế hoạch triển khai nhiệm vụ về an ninh năng lượng của UBND TP. Huế xác định yêu cầu phát triển cân đối các nguồn điện, bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội; đối với thủy điện, tiếp tục phát huy công suất các nhà máy hiện có, đồng thời đẩy nhanh những dự án được cập nhật trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Thành phố cũng đặt yêu cầu phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng, nguồn tái tạo và hạ tầng truyền tải để nâng độ ổn định của hệ thống điện.

Đây chính là bước chuyển đáng chú ý trong tư duy bảo đảm năng lượng: từ khai thác một nguồn điện sang quản trị rủi ro của cả hệ thống.

Nhiều diện tích sườn núi quanh thân đập thuỷ điện nhô cao khi lượng nước về hồ chứa rất thấp so với mọi năm.

 Nhiều diện tích sườn núi quanh thân đập thuỷ điện nhô cao khi lượng nước về hồ chứa rất thấp so với mọi năm.

Bài toán giữa phát điện và giữ nước cho hạ du

Có lẽ, khó khăn lớn nhất đối với các nhà máy thủy điện trong mùa khô không chỉ là thiếu nước để phát điện đáp ứng yêu cầu hệ thống mà còn duy trì dòng chảy cho hạ du. 

Cùng một mét khối nước, khi đi qua turbine có thể tạo ra điện; nhưng phía hạ du cũng cần chính lượng nước ấy cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và duy trì dòng chảy môi trường.

Áp lực kép ấy đang đặt lên vai những người vận hành thủy điện Hương Điền bởi lẽ hai nhu cầu ấy không phải lúc nào cũng trùng nhau về thời điểm. Chính vì vậy, thuỷ điện Hương Điền phải liên tục cập nhật dữ liệu khí tượng thủy văn, mực nước hồ, lưu lượng nước đến và lưu lượng xả hạ du để tính toán phương án vận hành phù hợp.

Tại Bình Điền, nguyên tắc cũng được xác định rất rõ. Ông Nguyễn Quang Hải khẳng định, bảo đảm dòng chảy môi trường hạ du là ưu tiên hàng đầu. Kế hoạch phát điện phải đặt trong yêu cầu cấp nước, duy trì dòng chảy môi trường và tuân thủ quy trình vận hành liên hồ chứa, an toàn đập.

Thực tế này cho thấy giá trị của một hồ thủy điện không thể chỉ được đo bằng số kWh tạo ra. Trong điều kiện nguồn nước dồi dào, phát điện và cấp nước có thể tương hỗ. Nhưng khi dòng chảy suy giảm, từng quyết định vận hành đều phải đặt lên bàn cân nhiều lợi ích cùng lúc: năng lượng, nông nghiệp, dân sinh, môi trường và an toàn công trình.

Cán bộ nhà máy thủy điện Bình Điền trực tiếp chỉ cho phóng viên Báo Công Thương những vị trí mực nước thay đổi tại hồ chứa.

Cán bộ nhà máy thủy điện Bình Điền trực tiếp chỉ cho phóng viên Báo Công Thương những vị trí mực nước thay đổi tại hồ chứa.

Biến đổi khí hậu khiến bài toán ấy ngày càng khó hơn. Có những giai đoạn khô hạn kéo dài, nước về hồ giảm sâu; nhưng cũng có thời điểm dòng chảy tăng đột biến, gây áp lực ngược trở lại đối với điều tiết và an toàn hồ đập. Quy luật mùa mưa – mùa khô vì vậy ngày càng khó dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm quá khứ.

Đây cũng là lý do TP. Huế đã đặt yêu cầu ứng phó biến đổi khí hậu ngay trong chiến lược phát triển năng lượng. Các kế hoạch của thành phố yêu cầu đưa giải pháp phòng, chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu vào quá trình lựa chọn vị trí, thiết kế, xây dựng và vận hành các công trình năng lượng.

Qua hình ảnh thực tế từ thuỷ điện Hương Điền và Bình Điền, chúng ta thấy biến đổi khí hậu ngày càng tác động đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là mối quan hệ giữa an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng.

Khi thủy điện vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong lượng điện sản xuất tại chỗ, câu hỏi đối với Huế không chỉ là mùa khô này phát được bao nhiêu điện, mà còn là hệ thống năng lượng sẽ thích ứng thế nào nếu những mùa khô khắc nghiệt xuất hiện dày hơn? Và Tp. Huế sẽ giải bài toán này thế nào trước yêu cầu tăng trưởng?

Trên địa bàn TP. Huế hiện có 16 nhà máy điện, 1 hệ thống tận dụng nhiệt khí thải và 600 hệ thống điện mặt trời mái nhà đã tham gia phát điện, với tổng công suất 610,3MW. Trong đó có 13 nhà máy thủy điện với tổng công suất 459,3MW.

Kỳ 2: Hạn hán và sức ép tăng trưởng

 

Nguyễn Tuấn

Có thể bạn quan tâm