Ngày 3/9/2026, Bộ Chính trị và Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Hội nghị diễn ra tại Phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội, kết nối với các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các điểm cầu cấp cơ sở.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: "Hội nghị hôm nay không chỉ là quán triệt, mà mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành". Tổng Bí thư yêu cầu từng cấp uỷ, cơ quan, địa phương, từng đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, trách nhiệm.
Toàn cảnh hội nghị tại phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Hà Nội. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN
Những nội dung cốt lõi và điểm mới
6 văn kiện được quán triệt trong cùng một hội nghị, gắn các vấn đề về xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, đội ngũ cán bộ, tổ chức không gian phát triển, du lịch và nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài trong một chương trình triển khai thống nhất.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ mạch liên kết giữa 6 văn kiện. Công tác tư tưởng, học tập và thực hành theo Bác cùng xây dựng đội ngũ cán bộ tạo nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức và sức chiến đấu. Phát triển vùng, du lịch và công tác người Việt Nam ở nước ngoài mở rộng không gian phát triển, khơi thông và kết nối nguồn lực.
Theo người đứng đầu Đảng, Nhà nước, "tích hợp không có nghĩa là hòa lẫn; đồng bộ không có nghĩa là đồng nhất". Mỗi văn kiện có mục tiêu, nhiệm vụ và công cụ riêng nhưng những nội dung giao thoa cần được đưa vào kế hoạch chung.
Các văn kiện xác định khá rõ những thay đổi về tư duy, phương thức tổ chức thực hiện và tiêu chí đánh giá.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới tiếp tục phát triển nội dung của Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ thị 07 chuyển sang học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Hai thay đổi nằm ở cụm từ "thực hành" và việc bổ sung "phương pháp", qua đó nhấn mạnh yêu cầu vận dụng vào công việc, gắn học tập với kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đặt yêu cầu chuyển mạnh tư duy quản lý thông tin sang chủ động dẫn dắt nhận thức xã hội. Với báo chí, yêu cầu này đặt ra trách nhiệm cao hơn trong cung cấp thông tin chính thống, củng cố niềm tin và nâng khả năng tiếp cận của công chúng đối với các nguồn tin chính thống. Nghị quyết xác định phương châm của công tác tư tưởng là: "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả".
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới tiếp tục phát triển chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung được đặt ra tại Kết luận 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị, đồng thời cụ thể hóa thành hệ thống cơ chế rõ hơn.
Nghị quyết xác định 4 khâu gồm: giao quyền, giám sát thực thi, quản trị rủi ro và đánh giá bằng kết quả. Đồng thời yêu cầu phân định rõ giữa đổi mới và vi phạm, xem xét miễn trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm đối với rủi ro khách quan và sai sót phát sinh trong quá trình đổi mới, thử nghiệm. Cơ chế này hướng tới tháo gỡ tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm đang ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện.
Điểm cầu trực tuyến tại Bộ Công Thương nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng 3/9/2026
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới xác định phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trước đó, trong năm 2022, lần đầu tiên Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành 6 nghị quyết riêng biệt về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh cho 6 vùng chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 27-NQ/TW thống nhất định hướng phát triển 6 vùng trong 1 văn kiện và kèm theo 2 phụ lục về hệ thống chỉ tiêu cùng các hành lang, không gian phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mỗi vùng động lực, trung tâm đổi mới sáng tạo và ngành công nghệ chiến lược phải xác định rõ nhu cầu về chuyên gia, công nghệ, vốn, mạng lưới và thị trường.
Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đặt yêu cầu đổi mới tư duy về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng tăng cường đồng hành, kiến tạo cơ chế và huy động nguồn lực. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là nguồn lực chiến lược, đồng thời là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới.
4 cơ chế mới
Cơ chế thứ nhất là thay đổi thước đo kết quả. Chỉ thị 07-CT/TW quy định lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo kết quả học tập, thực hành theo Bác. Nghị quyết 24-NQ/TW cũng đặt kết quả, sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực thi, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và mức độ hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá cán bộ, đảng viên.
Tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khái quát yêu cầu này thành nguyên tắc quản trị: "chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, không lấy văn bản, hội nghị thay chuyển biến thực tế". Thước đo được đặt vào kết quả cuối cùng thay vì số lượng kế hoạch, báo cáo hay hội nghị đã tổ chức.
Cơ chế thứ hai là đổi hướng kiểm tra, giám sát sang kết quả thực hiện. Chỉ thị 07-CT/TW yêu cầu chuyển mạnh kiểm tra, giám sát đối với xây dựng kế hoạch, đăng ký sang kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc và mức độ hài lòng của Nhân dân. Đồng thời yêu cầu kiên quyết khắc phục bệnh hình thức và tình trạng báo cáo không đúng thực chất. Cách kiểm tra gắn trực tiếp hơn với sản phẩm công việc và chuyển biến trên thực tế.
Cơ chế thứ ba là gắn cam kết nêu gương với đánh giá và công tác cán bộ. Chỉ thị 07-CT/TW quy định người đứng đầu phải công khai cam kết cá nhân cùng các tiêu chí nêu gương cụ thể. Kết quả thực hiện cam kết được sử dụng trong đánh giá, xếp loại đảng viên và xem xét quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Nêu gương được cụ thể hóa thành tiêu chí có thể kiểm tra, đánh giá thay vì dừng ở yêu cầu mang tính định tính.
Cơ chế thứ tư là đổi cách cung cấp thông tin và đặt hàng báo chí. Nghị quyết 25-NQ/TW yêu cầu chuyển cung cấp thông tin, sản phẩm tuyên truyền cho cơ sở theo hướng đặt hàng sát nhu cầu, đồng thời hoàn thiện cơ chế tài chính và cơ chế đặt hàng đối với báo chí chủ lực. Kết quả được nghiệm thu trên cơ sở mức độ tiếp cận và sử dụng thực tế của người dân.
Cùng ngày 22/8/2026, Ban Bí thư ban hành Quy định số 216-QĐ/TW về đặt hàng cung cấp thông tin cho cơ sở. Quy định này tạo thêm cơ sở để chuyển hoạt động cung cấp thông tin theo hướng xác định rõ nhu cầu, sản phẩm, đối tượng tiếp nhận và hiệu quả sử dụng, qua đó gắn nguồn lực tuyên truyền với kết quả thực tế.
Ngành Công Thương và 6 văn kiện
Trong 6 văn kiện được quán triệt tại Hội nghị, Nghị quyết số 27-NQ/TW có nhiều nội dung gắn trực tiếp với ngành Công Thương. Nghị quyết xác định phát triển kết cấu hạ tầng trở thành một ngành kinh tế chiến lược, tạo thị trường lớn để nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số... được đặt trong mối liên kết với phát triển công nghiệp xây dựng, cơ khí, luyện kim, vật liệu mới, thiết bị điện, tín hiệu, tự động hóa, phần mềm, tư vấn thiết kế và quản lý vận hành. Qua đó, doanh nghiệp Việt Nam có thêm không gian tham gia các dự án lớn, tích lũy công nghệ và từng bước làm chủ công nghệ cao.
Nghị quyết cũng xác định trục Bắc - Nam tích hợp đường bộ, đường sắt, hạ tầng năng lượng, cáp quang và logistics. Mục tiêu tổng quát bảo đảm tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước. Trong đó, an ninh năng lượng là lĩnh vực gắn trực tiếp với chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
Nghị quyết số 27-NQ/TW có nhiều nội dung gắn trực tiếp với ngành Công Thương.
Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương. Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Mỗi địa phương phải rõ vai trò trong vùng, lợi thế cần tập trung, việc phải liên kết, hạ tầng có sức lan tỏa".
Yêu cầu Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra có liên hệ trực tiếp với cách tổ chức quy hoạch và phát triển công nghiệp tại các địa phương. Trước hết, mỗi địa phương phải xác định rõ vai trò trong vùng, lợi thế cần tập trung, lĩnh vực cần liên kết và hạ tầng có sức lan tỏa, tránh tình trạng "chạy theo cơ cấu giống nhau, nơi nào cũng muốn có cảng biển, sân bay, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính... mà không căn cứ lợi thế, hiệu quả".
Đối với các công trình liên vùng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó, chuyển sang cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Nguồn lực đầu tư công cần tập trung cho hạ tầng nền tảng, hạ tầng liên vùng, hạ tầng số, khoa học, công nghệ, năng lượng và logistics, tránh đầu tư dàn trải.
Phụ lục 01 của Nghị quyết cho một bộ chỉ tiêu so sánh ngang giữa 6 vùng đến năm 2030. Dưới đây là các chỉ tiêu thuộc phạm vi theo dõi của ngành Công Thương:

Bộ chỉ tiêu tại Phụ lục 01 phản ánh khá rõ sự khác biệt về điều kiện, cơ cấu kinh tế và dư địa phát triển của từng vùng. Đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được đặt ở mức 14%, trong khi Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ cùng ở mức 30-32%. Các mức chỉ tiêu được xác định theo đặc điểm và lợi thế của từng vùng thay vì áp dụng một mặt bằng chung.
Riêng tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn được đặt ở mức 100% cho cả 6 vùng. Yêu cầu này tạo chuẩn chung về môi trường đối với phát triển công nghiệp, bất kể sự khác biệt về quy mô và cơ cấu kinh tế giữa các vùng.
Phụ lục 02 xác định 3 hành lang kinh tế ưu tiên gồm hành lang Bắc Nam trên trục giao thông Bắc Nam phía Đông; hành lang Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và hành lang Mộc Bài (Tây Ninh), TP, Hồ Chí Minh, Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh). Các hành lang này gắn tổ chức không gian phát triển với hệ thống giao thông, logistics, công nghiệp và các cực tăng trưởng lớn.
Đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, định hướng phát triển vành đai công nghiệp Thái Nguyên, Phú Thọ, ưu tiên cơ khí chế tạo, điện tử và công nghệ số. Thúc đẩy dịch vụ logistics trên cơ sở khai thác lợi thế các cửa khẩu và tuyến đường sắt quốc tế, qua đó tăng khả năng kết nối sản xuất, lưu thông hàng hóa và thị trường cho toàn vùng.
Nền tảng thực tiễn của ngành
Các nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030. Ngành Công Thương bước vào đợt quán triệt với nền tảng thực tiễn của 8 tháng đầu năm 2026, khi nhiều chỉ tiêu sản xuất, thương mại và đầu tư tiếp tục duy trì mức tăng cao.
Số liệu Cục Thống kê công bố ngày 3/9/2026 ghi nhận nhiều chỉ tiêu tiếp tục cải thiện so với cùng kỳ.

Những kết quả 8 tháng đầu năm tạo dư địa thuận lợi cho ngành Công Thương, song chặng đường phía trước vẫn còn nhiều yêu cầu lớn về sản xuất, thương mại, năng lượng, đầu tư và liên kết vùng.
Đợt quán triệt lần này đặt yêu cầu rõ hơn về cách đánh giá hiệu quả thực hiện, lấy kết quả và chuyển biến thực tế làm thước đo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo. Chậm thể chế hóa, chậm quyết định, chậm tháo gỡ điểm nghẽn là tăng chi phí, mất cơ hội".
Từ nghị quyết tới việc phải làm
Với ngành Công Thương, yêu cầu quan trọng nhất sau đợt quán triệt là nhanh chóng chuyển các mục tiêu và chỉ tiêu của văn kiện thành nhiệm vụ cụ thể, có thể đo lường và kiểm tra bằng kết quả thực tế.
Trước hết,cần xây dựng bộ chỉ tiêu theo từng vùng trên cơ sở Phụ lục 01 của Nghị quyết số 27-NQ/TW. Số liệu hiện tại về công nghiệp, thương mại, năng lượng của từng vùng cần được đối chiếu với các chỉ tiêu đến năm 2030 để xác định rõ khoảng cách còn lại, dư địa phát triển và những lĩnh vực cần ưu tiên nguồn lực. Có thước đo cụ thể, chương trình hành động mới có cơ sở để xác định nhiệm vụ, tiến độ và kết quả cần đạt.
Tiếp theo là gắn phát triển hạ tầng với nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định các dự án hạ tầng lớn phải tạo thêm thị trường và không gian phát triển cho công nghiệp nội địa. Với mỗi dự án đường sắt, công trình năng lượng hay hạ tầng quy mô lớn cần xác định khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam, tỷ lệ công đoạn có thể đảm nhận và cơ hội tiếp nhận, tích lũy, làm chủ công nghệ. Thiết bị điện, cơ khí chế tạo, luyện kim và vật liệu mới đều là những lĩnh vực gắn trực tiếp với chức năng quản lý của ngành.
Phép thử gần nhất nằm ở 4 tháng cuối năm 2026. Các chỉ tiêu theo kịch bản tăng trưởng cập nhật tại Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; cùng Chương trình hành động của ngành Công Thương thực hiện Nghị quyết số 168/NQ-CP của Chính phủ ban hành theo Quyết định số 1889/QĐ-BCT ngày 24/7/2026 phải được chuyển thành kết quả cụ thể. Song song đó, bộ chỉ tiêu phát triển vùng đến năm 2030 cần được cụ thể hóa trong kế hoạch của từng lĩnh vực, gắn với trách nhiệm của cơ quan chủ trì và tiến độ thực hiện.
3 yêu cầu trên cùng quy về tinh thần tổ chức thực hiện mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị khi dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi".
6 văn kiện đã xác định rõ chủ trương, mục tiêu và phương hướng. Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và trách nhiệm của người đứng đầu. Với ngành Công Thương, thước đo cuối cùng vẫn là năng lực đóng góp vào sức mạnh của nền kinh tế, nâng cao đời sống Nhân dân và củng cố niềm tin xã hội.
Chính sách thực sự đi vào cuộc sống bằng hành động cụ thể của từng cơ quan, từng đơn vị và từng cán bộ. Mỗi mục tiêu phải gắn với đúng người, đúng việc, đúng tiến độ và được kiểm chứng bằng kết quả thực tế. Đó là cách để nghị quyết chuyển thành động lực phát triển, tạo chuyển biến rõ hơn trong sản xuất, thương mại, năng lượng và đời sống kinh tế... qua đó tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Công Thương trong giai đoạn phát triển mới.