Tập trung giải quyết các “bài toán” công nghệ
Theo Bộ Công Thương, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được các đơn vị xác định là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với đổi mới quản trị, chuyển đổi số, phát triển công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực phục vụ ngành Công Thương. Các viện đã tập trung vào giải quyết "bài toán" công nghệ của ngành: Năng lượng, điện lực, cơ khí, mỏ - luyện kim, vật liệu, da - giầy, điện tử - tin học - tự động hóa và tham mưu chiến lược, chính sách ngành.
Viện Nghiên cứu Cơ khí thiết kế, chế tạo dây chuyền thiết bị, đồ gá hàn xe ô tô
Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, các viện, trường đã đề xuất triển khai, hình thành danh mục công nghệ chiến lược gắn với bài toán ngành. Nổi bật gồm SIEMS, DPP, UAV/UTM, AMR của UNETI; hệ thống điện thông minh, hydrogen xanh, điện gió ngoài khơi, lưu trữ năng lượng của Trường Đại học Điện lực và Viện Năng lượng; công nghệ cơ khí nguồn của NARIME; công nghệ chế biến khoáng sản chiến lược của VIMLUKI; công nghệ nguyên phụ liệu da - giầy của Viện Nghiên cứu Da - Giầy.
Bên cạnh đó là một số đề xuất nhiệm vụ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược: AI, dữ liệu lớn, IoT, tự động hóa, lưới điện thông minh, năng lượng tái tạo, hydrogen, lưu trữ năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghệ vật liệu, công nghệ chế biến khoáng sản chiến lược, truy xuất nguồn gốc số, robot tự hành, UAV và chuyển đổi số trong quản trị đại học.
Ở góc độ viện nghiên cứu, Tiến sĩ Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho biết, quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã điều chỉnh chiến lược, tập trung nghiên cứu ứng dụng vào 3 lĩnh vực cốt lõi của ngành Công Thương gồm: Sản xuất alumin và điện phân nhôm; vật liệu cơ bản phục vụ chế tạo sản phẩm cơ khí; cơ khí điện. Mục tiêu cốt lõi là từng bước làm chủ công nghệ, thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống, tiến tới đảm nhận vai trò tổng thầu (EPC/chìa khóa trao tay), qua đó thúc đẩy nội địa hóa và phát triển công nghiệp nền tảng. Theo đó, Viện đã hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng cơ chế, chính sách phát triển ngành do Bộ Công Thương giao và đang trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt, gồm: Đề án phát triển ngành cơ khí điện, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa; Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026-2045.
Đặc biệt, Viện đã tự chủ ít nhất 12 công nghệ nguồn thuộc lĩnh vực công nghiệp và năng lượng (dây chuyền hàn và lắp ráp ô tô, nhiệt điện, thủy điện, khai thác bô-xít, điện mặt trời nổi, tự động hóa...), vốn trước đây chủ yếu do các nhà thầu nước ngoài nắm giữ. “Thành tựu này góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm nhập siêu và tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cơ khí trong nước tại các dự án có yêu cầu kỹ thuật phức tạp” - TS. Phan Đăng Phong nhấn mạnh.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Vũ Nguyên Thành, Viện trưởng Viện Công nghiệp Thực phẩm cho hay, trong giai đoạn 2026, 2027, Viện ưu tiên chuẩn bị và triển khai hạ tầng trình diễn và chuyển giao công nghệ, đồng thời xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh gắn với các chương trình công nghệ lõi. Giai đoạn 2028 - 2030, Viện tập trung mở rộng quy mô chuyển giao, hình thành các gói công nghệ có khả năng nhân rộng theo chuỗi ngành hàng, đồng thời tăng cường nhiệm vụ hỗ trợ công tác xây dựng chính sách và quản lý nhà nước.
Nâng cao năng lực nghiên cứu cho các viện
Tại Quyết định số 2795/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ban hành Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 xác định quan điểm: Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) của các viện nghiên cứu, trường đại học cùng với việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong ngành. Thúc đẩy mối quan hệ gắn kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành Công Thương. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm; viện nghiên cứu và trường đại học là các chủ thể nghiên cứu mạnh; cơ quan quản lý nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều phối, kiến tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng, hiệu quả cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, nêu rõ định hướng: Tăng cường triển khai các nhiệm vụ có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp; các nhiệm vụ có sự liên kết giữa tổ chức khoa học và công nghệ trong nước với tổ chức quốc tế để ứng dụng, chuyển giao, tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới cho doanh nghiệp trong nước.
Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cho các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng theo hướng hiện đại, đồng bộ, đủ điều kiện triển khai các hoạt động nghiên cứu phát triển, tiếp nhận, trình diễn và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, gắn với các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên.
Nâng cao năng lực quản trị nhà nước đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, kiến tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong triển khai hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích nguồn lực từ ngân sách nhà nước chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; ưu tiên kinh phí cho các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia, cấp bộ; tập trung, tích tụ nguồn lực để đầu tư trọng điểm, có chiều sâu nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ cho một số viện nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm đạt mức độ hiện đại của quốc gia và khu vực; hình thành một số tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc Bộ Công Thương thực hiện vai trò gắn kết các chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành.
Ngoài ra, phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trở thành các viện nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp các công nghệ dẫn dắt, tạo lợi thế cạnh tranh, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Rà soát, triển khai có hiệu quả các cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp cho đầu tư nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ.
Những định hướng trên không chỉ là cơ hội để các viện nâng cao năng lực nghiên cứu, mà còn mở ra hướng để kết quả khoa học, công nghệ đi nhanh hơn từ phòng thí nghiệm vào sản xuất, góp phần hình thành năng lực công nghệ nội sinh và nâng cao sức cạnh tranh của ngành Công Thương.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia yêu cầu: Phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo.