Nhiều tiến bộ trong thúc đẩy bình đẳng giới
Ngày 10/4, tiếp tục Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở tổ về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030…

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - đoàn Hải Phòng phát biểu
Tham gia ý kiến về báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - đoàn Hải Phòng ghi nhận, Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia có nhiều tiến bộ trong thúc đẩy bình đẳng giới, thể hiện qua nhiều chỉ tiêu.
Cụ thể, trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp tỉnh đạt 82,35%, vượt mục tiêu đề ra, cấp bộ đạt 59,16%, tiệm cận mục tiêu 60%; trong lĩnh vực kinh tế - lao động, tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương đạt 52,1%, vượt mục tiêu 50% .
Trong lĩnh vực xã hội, tỷ lệ nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới được tiếp cận dịch vụ hỗ trợ đạt trên 90%, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; trong lĩnh vực y tế, tỷ lệ tử vong mẹ giảm xuống 42/100.000 ca sinh, đạt mục tiêu đề ra.
Trong lĩnh vực giáo dục, nhiều chỉ tiêu về hoàn thành giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số đạt và vượt mục tiêu, tiệm cận mục tiêu 2030 . Những con số này cho thấy, bình đẳng giới ở nước ta không chỉ là mục tiêu chính sách, mà đã có những chuyển biến rõ rệt trong thực tiễn.
Đại biểu cũng đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội; từng bước lồng ghép giới vào các chính sách phát triển; duy trì hệ thống chương trình, chiến lược về bình đẳng giới tương đối đồng bộ.
Cần tập trung đột phá vào cấp cơ sở
Bên cạnh đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng nêu một số vấn đề cần được nhìn nhận sâu hơn, vì đây không chỉ là những hạn chế trong tổ chức thực hiện, mà còn là những vấn đề có tính nền tảng, quyết định chất lượng và tính bền vững của công tác bình đẳng giới.
Thứ nhất, một số kết quả đạt được còn thiếu tính bền vững, chưa tạo thành nền tảng vững chắc ở cấp cơ sở. Theo đại biểu, nhìn vào số liệu, chúng ta có thể ghi nhận nhiều chỉ tiêu tích cực, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy độ vênh khá rõ giữa các cấp.
Tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp tỉnh đạt 82,35%, vượt xa mục tiêu 60%; cấp bộ đạt 59,16%, tức là đã tiệm cận mục tiêu. Nhưng ở cấp xã, tỷ lệ này chỉ đạt 43,3%, chưa đạt yêu cầu đề ra. Cùng một mục tiêu về phụ nữ tham gia lãnh đạo, nhưng kết quả ở cấp gần dân nhất lại là cấp yếu nhất.
"Điều đó cho thấy thành quả bình đẳng giới ở nhiều nơi vẫn chưa được tạo dựng trên một nền tảng đồng đều và bền vững; có những chỉ tiêu đã đẹp ở cấp độ thống kê chung, nhưng chưa thật sự chuyển hóa thành năng lực thực thi ổn định ở cơ sở. Nếu cấp cơ sở vẫn là khâu yếu, thì thành tựu ở cấp trên sẽ khó lan tỏa thành chuyển biến thực chất trong đời sống xã hội" - đại biểu nói.
Thứ hai, báo cáo mới phản ánh khá rõ hiện tượng, nhưng chưa đi sâu đầy đủ vào những nguyên nhân mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới. Phụ lục cho thấy số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình không được trả công của phụ nữ năm 2025 vẫn ở mức 1,68 lần so với nam giới.
Đây là một con số rất đáng suy nghĩ, bởi nó cho thấy gánh nặng chăm sóc, tái sản xuất sức lao động trong gia đình vẫn chủ yếu đặt lên vai phụ nữ. Khi phụ nữ phải gánh nhiều hơn phần việc không được trả công, thì cơ hội tham gia thị trường lao động, cơ hội học tập nâng cao trình độ, cơ hội tham gia lãnh đạo và cả khả năng phát triển nghề nghiệp đều bị co hẹp.
Thứ ba, chất lượng dữ liệu và phương thức đánh giá hiện nay vẫn là một điểm nghẽn lớn của công tác bình đẳng giới. Đại biểu cho rằng, đây không chỉ là vấn đề thống kê, mà là vấn đề của năng lực hoạch định chính sách. Trong phụ lục, có thể thấy một số chỉ tiêu quan trọng vẫn chưa thu thập được số liệu, như tỷ lệ nữ giám đốc, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã; tỷ suất sinh ở vị thành niên; hay tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người có trình độ tiến sĩ...
Thứ tư, vấn đề lớn hiện nay không chỉ là thiếu nguồn lực, mà còn là thiếu cơ chế gắn trách nhiệm với kết quả thực hiện. Chúng ta đã có chiến lược, có chương trình, có chỉ tiêu, có phân công, có kinh phí; nhưng khi một chỉ tiêu không đạt thì chưa thấy rõ trách nhiệm thuộc về ai, khâu nào yếu, cần xử lý ra sao. Chính sự thiếu ràng buộc trách nhiệm đó làm giảm hiệu lực thực thi và làm cho chính sách đúng có khi vẫn chưa tạo ra kết quả tương xứng.
Thứ năm, quan điểm về bình đẳng giới của chúng ta vẫn đi theo lối mòn, giới được chia thành hai giới nam và nữ, trong đó nữ giới là đối tượng yếu thế hơn. Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội, khó học và y học hiện đại, khái niệm giới đã thay đổi đáng kể trong thực tiễn, ngoài hai giới nam và nữ còn có thêm những người đồng giới và chuyển giới.
Nhưng dường như mọi chính sách và báo cáo của chúng ta vẫn chỉ xoay quanh quan niệm truyền thống về giới. Nhóm yếu thế thực chất về giới hiện nay phải là những người chuyển giới và những người mang giới tính thứ ba. Báo cáo chưa làm rõ điều này. Chúng ta còn khoảng trống chính sách khá lớn dành cho đối tượng này.
Từ những phân tích trên, đại biểu đề xuất 4 nhóm kiến nghị trọng tâm sau đây: Một là, cần chuyển mạnh công tác bình đẳng giới từ tư duy khuyến khích sang tư duy ràng buộc trách nhiệm.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp và xác định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương đối với từng nhóm chỉ tiêu bình đẳng giới, nhất là các chỉ tiêu chưa đạt hoặc đạt thấp kéo dài.
Hai là, cần xây dựng hệ thống dữ liệu giới đồng bộ, hiện đại và có khả năng phản ánh thực chất hơn.
Ba là, cần tập trung đột phá vào cấp cơ sở và xử lý các nguyên nhân mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới. Đây phải là hướng ưu tiên trong giai đoạn tới. Cần có chính sách tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ cán bộ nữ ở cơ sở; đồng thời phải có giải pháp mạnh hơn để giảm gánh nặng chăm sóc không được trả công cho phụ nữ, thay đổi định kiến giới trong gia đình và cộng đồng, tạo điều kiện để phụ nữ có thời gian, cơ hội và năng lực tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội một cách thực chất hơn.
Bốn là, cần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và gắn bình đẳng giới với các mục tiêu phát triển quốc gia. Do vậy, đề nghị việc bố trí và sử dụng ngân sách cho công tác bình đẳng giới phải được đánh giá theo kết quả đầu ra, theo mức độ tác động thực tế, tránh dàn trải, hình thức.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - đoàn Hải Phòng cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận: Không xem bình đẳng giới chỉ là một chính sách xã hội thuần túy, mà phải coi đây là động lực phát triển, gắn trực tiếp với chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động, chất lượng quản trị và sự phát triển bền vững của đất nước. Khi được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển, bình đẳng giới sẽ không còn là phần việc riêng của một ngành hay chương trình, mà trở thành yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách.




