Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ tư 27/05/2020 12:24

Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần VI: Chân dung những anh hùng

13:05 | 19/08/2016
Tham gia vào công trình Thủy điện Sơn La và Lai Châu cùng Ban A có hai người Anh hùng Lao động đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng. 
Ông Thái Phụng Nê (ngoài cùng bên phải) động viên công nhân trên công trường thủy điện Sơn La năm 2010

Đó là vị “tướng già” Thái Phụng Nê (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa IX, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng, Bí thư tỉnh ủy Phú Yên, đặc phái viên Thủ tướng Chính phủ về thủy điện, Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo nhà nước Thủy điện Sơn La - Lai Châu), suốt đời tận tụy với thủy điện, đào tạo biết bao cán bộ, chuyên gia cho ngành Điện, nay họ đều giữ nhiều trọng trách trong EVN. Bác Nê thì quá nổi tiếng ai mà chả biết! Nhưng có ai biết chuyện không, khi ở chuyến đi cuối cùng, trước khi về nghỉ, rời trách nhiệm Ban chỉ đạo nhà nước Thủy điện Sơn La - Lai Châu năm 2015, thay vì một chuyến đi thăm nước ngoài mà EVN muốn dành cho một con người tận 83 xuân vẫn hiến dâng sức khỏe và trí tuệ cho ngành Điện, bác lại xin lên đầu nguồn sông Đà để đứng lặng không nói một lời. Để tới đâu, bác cũng dặn đồng bào, dặn anh em đồn biên phòng Ka Lăng, các cán bộ chủ chốt huyện Mường Tè: Phải giữ bằng được rừng nguyên sinh đầu nguồn. Có rừng là có nước. Có nước là có điện. Nước là tài nguyên quốc gia, vô giá cho bao ngành khác ở dưới xuôi. Thái Phụng Nê cũng là một đầu nguồn.

Còn có một người anh hùng nữa, chung lưng đấu cật, đóng góp vai trò không nhỏ cho thủy điện, Anh hùng Lao động Nguyễn Thế Trinh, thuộc Công ty Cổ phần Lilama 10 (Tổng công ty Lilama), chịu trách nhiệm đốc chiến, lắp đặt toàn bộ thiết bị cho hai nhà máy Thủy điện Sơn La và Lai Châu. Tôi hai lần gặp người anh hùng quê xứ Nghệ trên công trình Lai Châu này. Lần thứ nhất, rõ ra một vị tướng trẻ thế hệ sau bác Nê. Nhỏ thó, dáng xương xương chắc chắn. Tiếng nói dứt khoát, mạnh mẽ. Gương mặt hom hóm song cương nghị. Ở hội nghị giao ban do ông Vũ Đức Thìn - Ủy viên thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước - chủ trì, tôi nhớ, có một Trinh mạnh mẽ trực tính. Anh đi thẳng vào các vấn đề gay cấn, cần bàn bạc với lý lẽ rất chặt chẽ. Người chỉ huy là anh đã nắm khá tường tận sự liên quan hữu cơ giữa các đơn vị, mà đơn vị anh là mấu chốt, nắm nội dung quan trọng, chủ yếu: Lắp máy móc, tuốc-bin trong lòng nhà máy sinh ra điện. Đúng là phẩm chất đáng nể, đầy bản lĩnh của một con người hành động. Tôi thở phào ở cuộc gặp đầu tiên chứng kiến cảnh giao ban căng thẳng, khi ở phút cuối cùng, trước sự mềm dẻo nhưng cùng nguyên tắc của cả hai lãnh đạo, ông Nê và ông Thìn, mọi vấn đề được giải tỏa. Người cán bộ đầy cá tính tên Trinh đã đưa ra một kế hoạch có tình và có lý cho tiến độ công việc được đúng thời hạn. Máy móc không đưa kịp lên đầy đủ, không lắp kịp đồng bộ là gay lắm. Là lỡ trớn, vì mùa mưa tới rồi.

Lần thứ hai giao ban, hơn sáu tháng sau, gặp lại. Thấy một anh Trinh khác hẳn, hiền hòa, ít nói quá, cười rất tươi nữa. Hỏi, anh bảo, công việc hoàn tất vào khấc cả rồi. Mọi việc đúng như giao ước cả rồi!

Những cán bộ như vậy, còn nhiều gương mặt nữa ở các đơn vị khác đối tác của Ban A. Suốt 20 năm hợp tác, như những chiến dịch lớn mang tính hợp đồng quân binh chủng, tạo thành một sức mạnh mà làm ra hình ảnh đầy thuyết phục của những đơn vị mũi nhọn, tự làm nên thương hiệu, trên con đường xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại.

Quá trình để xây dựng Thủy điện Sơn La rồi Lai Châu là quá trình kết nối đơn vị xây dựng và lắp đặt rất nhiều thiết bị do Ban A ở vai trò trung tâm. Những người đã góp công làm nên hai công trình lớn này, không bao giờ quên hình anh chiến sỹ, cán bộ Binh đoàn 12 Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn năm ấy. Như bao giờ cũng vậy, ở mọi miền tổ quốc, nơi đâu khó nhất, gian nan nhất, có lực lượng quân đội tham gia hỗ trợ. Họ là mũi nhọn, là sự bảo đảm lợi quyền tập thể, lợi ích nhà nước, bằng tính kỷ luật, bằng đội ngũ vừa cần cù vừa dám nghĩ, dám làm với lòng dũng cảm vô song. Tôi hình dung ra hình ảnh đại tá Đào Văn Tuấn - người chỉ huy của đơn vị thi công đắp đê quai hạ lưu Sơn La khi trận lũ quét tràn về. Như những ngày chiến tranh cần hành động làm gương của người chỉ huy cao nhất. Chỉ huy phải là người xung phong đầu tiên xông thẳng về phía hòn tên mũi đạn làm gương cho tất cả binh sĩ noi theo. Hàng ngàn chiến sĩ Binh đoàn 12 giữ vai trò quan trọng ở đêm lịch sử lũ về đe dọa công trình Sơn La, đã sát cánh bên người chỉ huy của họ, bất chấp nước có thể cuốn đi tất cả. Người ta, anh em Ban A, cũng không bao giờ quên được hình ảnh những chiến sĩ công binh - Quân khu II, vật lộn với sóng nước của con lũ đã cuốn trôi cả cầu tạm mạn hạ lưu Lai Châu. Phải vượt lũ đưa máy móc, công cụ sang bờ vai phải cho kịp tiến độ thi công con kênh và cống dẫn dòng. Chính những chiến sĩ công binh đã bất chấp nguy hiểm, mưu trí làm ra mạch kết nối hai bờ sông bằng con cầu phao thép nổi cho bao máy móc vượt qua. Đêm tối không ai nhìn rõ những khuôn mặt họ. Những người lính và sỹ quan cũng “vô danh trận mạc”. Một trận chiến không có tiếng súng, nhưng không kém phần cam go.

Cũng như bao anh em ở công trường Sơn La, cho tới tận hôm nay cũng không bao giờ quên được Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Sông Đà - Nguyễn Kim Tới, ngày đêm lăn lộn điều xe các loại ở công trường, lăn xả trên mặt đập đê quai Sơn La giữ đê. Giọng nói anh sau ngày tổng điều hành cơ giới ấy đã khản đặc. Con đê quai chiến thắng dòng nước lũ hung hãn nhất, bảo vệ công trình chứa hàng ngàn tỷ đang xây dang dở và tính mạng của bao người đang thi công. Họ thực sự là những người anh hùng chưa được phong tặng, anh hùng vô danh trận mạc mà lịch sử Ban A, lịch sử EVN sẽ chẳng bao giờ quên.

Tôi đã hỏi chuyện biết bao nhiêu nhân chứng của EVN trong cả ba chuyến thực tế dài dằng dặc. Từ người có trách nhiệm nhất của cả hai công trình tới những anh em kỹ sư trẻ, già. Ai cũng nhắc tới một người đã khuất: Nguyên Phó Tổng giám đốc EVN, nguyên Giám đốc Ban Quản lý dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La - Lai Châu - kỹ sư Nguyễn Hồng Hà. Tôi cũng đã xem hết các thước phim chưa dựng và đã dựng của Nguyễn Thước, ghi hình ảnh của Nguyễn Hồng Hà suốt gần 20 năm để một ngày đầy nắng, khi những đám mây trắng khổng lồ tạo nên những vòng trắng giăng đầy trên những đỉnh núi cao nhất đứng xung quanh công trình Lai Châu, tôi hình dung ra anh, cùng mây trời, sông nước, núi non tưởng niệm.

Đấy là một con người xứ Hà Tĩnh. Dáng cao, khuôn mặt thanh thoát, mắt vui hiền và vầng trán cao nho nhã. Một người cử chỉ luôn nhanh nhẹn, xông xáo. Ai cũng đánh giá anh là người rất dễ gần. Một tuýp người luôn bày tỏ sự chân thành và trái tim thân thiện. Giọng nói nhỏ nhẹ, nhưng đầy thuyết phục. Ngay từ khi làm Phó Giám đốc Ban A, giúp việc cho ông Thìn giám đốc. Anh là người có vai trò rất lớn quyết tâm ứng dụng công nghệ thi công bê tông đầm lăn, mà làm lên kỳ tích về tiến độ, tạo ra kỷ lục của ngành thủy điện, đưa Thủy điện Sơn La về đích trước thời hạn ba năm. Bí thư chi bộ Ban A, Phạm Thanh Hoài, nói về anh: “Anh Hà là một cán bộ lãnh đạo rất am hiểu, giàu kinh nghiệm trong công việc của nghề thủy điện. Một người anh rất hiểu từng cán bộ kỹ sư dưới quyền mà giúp họ trưởng thành đến hôm nay”.

Phó phòng Kỹ thuật an toàn - Phan Hồ Quang, trong một đêm Nậm Nhùn, giữa núi rừng đổ mưa ngút ngát, tâm sự với tôi trong tiếng mưa thì thầm trên thềm rừng: “Tôi từ nơi khác chuyển về Ban A thủy điện, cố gắng hoàn thành mọi công việc, là cũng mong có một vị trí cao hơn hôm nay. Đấy là sở nguyện bình thường. Nhưng khi anh Hà cần, tâm sự, muốn tôi lên Lai Châu làm vị trí giúp việc cho Trưởng phòng Kỹ thuật. Tôi đã đồng ý ngay vì không thể phụ lòng một con người tử tế, biết người biết của, như anh Hà. Anh có sức hút kỳ diệu cho bao người như tụi tôi. Suốt bao năm làm việc dưới quyền anh, người ta sức có một, muốn làm hai, ba, bởi anh luôn thật lòng, dù rất quyết liệt cho cái chung”.

Tôi cũng tìm lại những bức ảnh anh em ở đây đã lưu giữ trước khi anh Hà bị trọng bệnh sắp mất. Cái đầu lơ thơ tóc vì xạ trị vẫn đứng tươi cười bên anh em. Anh đang điều trị ở Hà Nội vẫn nhao lên công trường kiểm tra lần cuối cùng, trước khi chuẩn bị cho đóng cống dẫn dòng tích nước hồ chứa Thủy điện Lai Châu. Nói về người đồng nghiệp, cấp trên lại là người bạn rất thân này, Vũ Đức Lực, Chánh văn phòng Ban A, rơm rớm nước mắt: “Ở đây ai cũng yêu quý anh Hà. Anh chịu đọc, đọc sách kỹ thuật và cả sách văn học, lịch sử. Chịu nghiên cứu khoa học và lại rất gần cán bộ kỹ sư dưới quyền. Ai tâm tư ra sao, anh đều biết mà lựa lời ân cần tâm sự. Ngày sắp mất, anh vẫn nóng ruột lên kiểm tra công việc khắp công trường. Đám tang anh, bao nhiêu nước mắt!”.

Tôi hình dung ra cái bóng thư sinh ấy trong cả hai lần lũ quét đe dọa phá đê quai. Ở Lai Châu, vừa xuống Sơn La, anh lại lộn về Lai Châu. Suốt đêm đứng trên mặt đê. Kỹ sư Nguyễn Hồng Hà chính là người quyết định đưa ra giải pháp quan trọng nhất, đổ ngàn mét khối đá hộc phá tan con xoáy nước khổng lồ đe dọa mất đê quai. Sự gương mẫu của anh, kể cả khi nguy hiểm nhất, khó khăn nhất, làm anh em dưới quyền an tâm bất chấp tất cả, cho dù họ có thể hy sinh để bảo vệ công trình thủy điện trong những tình huống oái oăm của thiên nhiên hay những điều bất ngờ của khoa học kỹ thuật phát sinh cần tháo gỡ.

Con người Nguyễn Hồng Hà vô tình chính là người đại diện, một biểu tượng giàu tính anh hùng ca của những con người Thủy điện ở Sơn La và Lai Châu. Anh là nốt nhạc quan trọng, kế liền sau người anh hùng Thái Phụng Nê, tạo nên những hợp âm không giờ tắt của cả tập thể Ban A, những người đã và sẽ tiếp nối, làm nốt công việc suốt đời anh theo đuổi. Theo đuổi đến phút chót, tận khi vĩnh biệt cõi nhân gian này. Một con người dung dị mà thật phi thường.

Viết những dòng chữ về những con người thủy điện, tôi thiết tha đề nghị lãnh đạo Nhà nước, Đảng và Quốc hội quan tâm trường hợp đặc biệt này. Kỹ sư Nguyễn Hồng Hà xứng đáng được truy phong Anh hùng Lao động, khi anh đã là người anh hùng trong công việc, là tấm gương lao động quên mình vì đất nước, mãi trong tấm lòng của tất cả những con người ở mũi nhọn đầy thử thách này.

Tôi đã đứng trên sườn núi cao, bờ phải, nơi Ban A xây lên một đài tưởng niệm rất đẹp, để tôn vinh những người đã hy sinh tính mạng trong suốt sáu, bảy năm trời kiến tạo công trình Thủy điện Lai Châu này. Từ trên đài tường niệm ấy, nhìn xuống, con đập lớn như vệt trắng nổi bật giữa ngàn xanh hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc. Giờ đây khi bắt đầu sản xuất ra điện, những bầy dê núi đã chọn sườn hạ lưu con đập làm nơi an lành cho chúng nghỉ ngơi. Tôi cũng đã đi thuyền ngược trên lòng hồ Lai Châu, ngắm nhìn những xóm chài thanh bình dấu mình trên những vụng hồ. Những bến thuyền, có con đường mòn quanh co lên các bản chiều chiều khói lam xanh tỏa trên những nóc nhà. Tất cả cho tôi một cảm giác thơ mộng, thanh bình, kỳ vĩ núi biếc và non xanh hắt bóng xuống hồ Lai Châu. Rồi đây sẽ có tuyến du lịch lòng hồ để người ta tha hồ ngắm những vách đá rêu phong chất ngất, màu sắc đa dạng của những cánh rừng nguyên sinh. Và, biết đâu trong số những du khách sau này ấy, họ nghe được tiếng rừng rì rào kể về biết bao sự tích của con người thủy điện mà trong đó có kỹ sư Nguyễn Hồng Hà.

Anh Hồng Hà ơi! Tôi thầm gọi tên người bạn thủy điện chưa một lần gặp gỡ, giữa mặt hồ êm đềm, sắc nước phớt hồng bao la, sóng lăn tăn chứa trăm ngàn tia sáng, gợn rõ trong sớm nay sự an lành, soi cả bao la mây trời, màu núi. Giữa hai bên vút lên là bao cánh rừng, bao đỉnh núi có ngàn mây biếc, đẹp tươi lạ lùng. Anh Hà ơi! Giá như anh vượt qua được trọng bệnh để cùng chúng tôi sớm nay ngắm ánh mặt trời chiếu những tia nắng đầu tiên trên mặt hồ và con đập kiêu dũng kia. Nhà máy, sắp tới ngày khánh thành rồi. Sẽ ngày ngày, tháng tháng, năm năm bắt đầu rì rầm làm ra nguồn điện năng làm giầu cho đất nước... Tôi nhớ ơn các anh hùng của “dòng sông điện này”. Mãi mãi!

(Còn nữa)

TIN LIÊN QUAN
Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần V: Đền thờ đức vua Lê Thái Tổ - Sự bảo tồn
Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần IV: Với nước, không thể gian dối
Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần III: Nghề thủy điện, lãng mạn và kịch tính
Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần II: Vừa đi vừa viết
Từ Sơn La tới Lai Châu: Đầu ngọn sóng - Phần I: Xách ba lô lên đường

Tùy bút của Nguyễn Văn Thọ - Kính tặng những người anh em làm thủy điện