Từ Nghị quyết 57, Bộ Công Thương tạo nền tảng phát triển kinh tế dữ liệu

Bộ Công Thương tích cực hoàn thiện các cơ sở dữ liệu theo yêu cầu 'đúng, đủ, sạch, sống', phục vụ quản lý điều hành, dự báo chính sách và phát triển kinh tế dữ liệu.

Khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu

Trong bối cảnh hiện nay, dữ liệu đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quý giá trong thế giới số, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của nền kinh tế, thậm chí, dữ liệu còn được coi là "dầu mỏ của thời đại số".

Các cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đã và đang hỗ trợ tích cực cho Bộ Công Thương trong việc theo dõi, đánh giá năng lực sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Các cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đã và đang hỗ trợ tích cực cho Bộ Công Thương trong việc theo dõi, đánh giá năng lực sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Theo kinh nghiệm quốc tế, dữ liệu mở và liên thông có thể đóng góp thêm 1-2% GDP tại các nền kinh tế số phát triển. Với quy mô và tốc độ số hóa của Việt Nam, tiềm năng tương tự là có cơ sở, và như vậy với GDP ước đạt 800 tỷ vào năm 2030 thì kinh tế dữ liệu có thể đóng góp 8 - 16 tỷ USD. 

Trong kinh tế dữ liệu, dữ liệu là nguồn lực đầu vào, là tư liệu sản xuất chính để tạo ra giá trị mới. Dữ liệu là tài sản kinh tế đặc biệt, nó được trao đổi, định giá và thương mại hóa. Dữ liệu là nền tảng cho trí tuệ, dự báo, ra quyết định và có thể thay đổi hành vi và quản trị xã hội.

Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nêu rõ: Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.

Mục tiêu đến năm 2030, quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu.

Đồng thời, Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu, có cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây; thu hút doanh nghiệp nước ngoài đặt trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây tại Việt Nam. Hình thành hạ tầng lưu trữ, tính toán đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh. Sớm hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia; đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu vùng. Xây dựng, phát huy hiệu quả dữ liệu quốc gia, dữ liệu của bộ, ngành, địa phương bảo đảm liên thông, tích hợp, chia sẻ. 

Đặc biệt, có cơ chế, chính sách bảo đảm dữ liệu thành nguồn tài nguyên tư liệu sản xuất quan trọng. Xác lập quyền sở hữu, kinh doanh dữ liệu và phân phối giá trị tạo ra từ dữ liệu. Phát triển kinh tế dữ liệu, thị trường dữ liệu và các sàn giao dịch dữ liệu. Xây dựng các cơ sở dữ liệu lớn có chủ quyền của Việt Nam. Hình thành ngành công nghiệp dữ liệu lớn của Việt Nam. Phát triển mạnh mẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với các ngành, lĩnh vực quan trọng.

Dữ liệu trở thành nguồn lực cốt lõi

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Công Thương đã có nhiều văn bản chỉ đạo cũng như triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ nhằm phát triển hạ tầng, kiến trúc số, dữ liệu số, xây dựng và khai thác hiệu quả tài nguyên dữ liệu của ngành.

Tại Quyết định số 3255/QĐ-BCT ngày 5/112025 của Bộ Công Thương về việc ban hành Chiến lược Phát triển dữ liệu và Quy hoạch tổng thể hạ tầng trung tâm dữ liệu của Bộ Công Thương đã nhấn mạnh quan điểm: Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; phát huy sức mạnh tham gia thu thập, xây dựng, phát triển, khai thác, sử dụng và làm giàu dữ liệu.

Tập trung đầu tư các công nghệ, nền tảng hiện đại, hướng tới tự chủ về công nghệ dữ liệu. Dành nguồn lực đầu tư ưu tiên cho nghiên cứu và phát triển dữ liệu. Xây dựng và quy hoạch tổng thể hạ tầng trung tâm dữ liệu Bộ Công Thương theo nguyên tắc ưu tiên phát triển trung tâm dữ liệu tập trung (trung tâm dữ liệu lớn). Tập trung khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, thúc đẩy mạnh mẽ hình thành cơ sở dữ liệu lớn (Cơ sở dữ liệu tổng hợp Bộ Công Thương).

Ngày 3/2/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 235/QĐ-BCT về việc ban hành Khung kiến trúc dữ liệu của Bộ Công Thương đặt mục tiêu: Đến năm 2030, Bộ Công Thương hướng tới vận hành toàn bộ các hoạt động quản lý nhà nước, chỉ đạo điều hành và cung cấp dịch vụ công trên một nền tảng dữ liệu số thống nhất, an toàn, thông minh, có khả năng phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định ở mức cao.

Dữ liệu trở thành nguồn lực cốt lõi cho công tác quản lý, hoạch định chính sách và phát triển thị trường: Dữ liệu của Bộ Công Thương được quy hoạch, chuẩn hóa và tích hợp để sẵn sàng phục vụ các ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích chuyên sâu.

Đến nay, Bộ Công Thương đã duy trì vận hành Trung tâm dữ liệu an toàn, ổn định; các nền tảng số dùng chung của Bộ được triển khai tập trung, gồm hệ thống quản lý văn bản, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại, hệ thống điều hành, các nền tảng phục vụ chỉ đạo, điều hành và đào tạo trực tuyến.

Bên cạnh đó, Bộ đã phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ kết nối thành công với Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; hoàn thành chia sẻ dữ liệu với Bộ Tài chính về website, ứng dụng thương mại điện tử bán hàng và cung cấp dịch vụ thương mại điện tử. Cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đã kết nối kỹ thuật thành công để đồng bộ dữ liệu sang Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Đối với nhiệm vụ định danh hóa chất, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Công an để làm sạch dữ liệu doanh nghiệp trong cơ sở dữ liệu hóa chất và kết nối, chia sẻ thông tin sang hệ thống của Bộ Công an, phục vụ cho định danh điện tử. Đáng chú ý, cơ sở dữ liệu hàng hóa hóa chất, tiền chất đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu, đang đối soát với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để làm sạch dữ liệu và chuẩn bị tích hợp nhóm dữ liệu về hóa chất, giấy phép hóa chất trên VNeID.

Bộ cũng đã xây dựng Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ; kết nối với Kho dữ liệu điện tử trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp để tái sử dụng dữ liệu công dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu Đề án 06.

Các cơ sở dữ liệu theo Kế hoạch số 02- KH/BCĐTW, Nghị quyết số 214/NQ-CP và Nghị quyết số 71/NQ-CP đã được phân công đơn vị chủ trì, trong đó ưu tiên cơ sở dữ liệu hàng hóa hóa chất, cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại, dữ liệu xuất nhập khẩu, dữ liệu thương mại điện tử, dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý nhà nước theo thời gian thực.

Đối với truy xuất nguồn gốc hàng hóa, Bộ đã đưa vào vận hành hệ thống tại địa chỉ www.verigoods.vn từ ngày 23/12/2025, hỗ trợ doanh nghiệp khai báo, cập nhật thông tin và phục vụ công tác quản lý nhà nước.

Hệ thống xử lý vi phạm hành chính (INS) đã hoàn thành kết nối dữ liệu lên Cơ sở dữ liệu quốc gia và thống nhất kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia để thanh toán tiền phạt vi phạm hành chính. Các cơ sở dữ liệu đang tiếp tục được hoàn thiện theo yêu cầu đúng, đủ, sạch, sống, phục vụ quản lý điều hành, dự báo chính sách và phát triển kinh tế dữ liệu.

Nhìn chung, các cơ sở dữ liệu hóa chất; cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại; cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý thị trường đã và đang hỗ trợ tích cực cho Bộ trong việc theo dõi, đánh giá năng lực sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp, dự báo một phần biến động thị trường.

Một trong những kết quả dễ nhận thấy nhất, dữ liệu số mở ra các dư địa tăng trưởng mới. Sự phát triển của kinh tế số phần lớn dựa trên khai thác dữ liệu và công nghệ số. Các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu như thương mại điện tử, kinh tế nền tảng (platform economy), dịch vụ số và kinh tế sáng tạo đang bùng nổ. Năm 2025, quy mô thương mại điện tử của Việt Nam đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng trưởng 25,5% phần lớn nhờ khai thác dữ liệu về hành vi mua sắm của người tiêu dùng để cá nhân hóa trải nghiệm và mở rộng thị trường. 

Trong 6 tháng cuối năm 2026, Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại, cơ sở dữ liệu chuyên ngành hóa chất, dữ liệu thương mại điện tử, dữ liệu truy xuất nguồn gốc với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đồng thời, ban hành và triển khai Kế hoạch phát triển dữ liệu công nghiệp giai đoạn 2026-2030. 

Quỳnh Nga

Có thể bạn quan tâm