Từ Nghị quyết 10 đến yêu cầu kết nối hệ sinh thái công nghiệp

Việt Nam có đủ các thành tố cần thiết để hình thành một hệ sinh thái công nghiệp, song cần tạo cơ chế để các thành tố này liên kết chặt chẽ với nhau.

Hơn 61% vốn FDI tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo

Lũy kế đến ngày 30/8/2026, cả nước có 47.793 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên 561,6 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế đạt 367,45 tỷ USD, bằng khoảng 65,4% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Việt Nam có đủ các thành tố cần thiết để hình thành một hệ sinh thái công nghiệp.

Việt Nam có đủ các thành tố cần thiết để hình thành một hệ sinh thái công nghiệp.

Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút FDI lớn nhất với trên 344,3 tỷ USD, chiếm 61,3% tổng vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện thu hút trên 45,7 tỷ USD, chiếm 8,1%.

Riêng trong 8 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt trên 40,6 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với trên 21 tỷ USD, chiếm 51,8% tổng vốn đăng ký; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt trên 3,29 tỷ USD, chiếm 8,1%.

Quy mô dòng vốn FDI vào Việt Nam cho thấy, công nghiệp tiếp tục là khu vực hấp thụ lượng vốn FDI lớn nhất. Tuy nhiên, theo TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên Chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, vấn đề hiện nay không chỉ là thu hút thêm dự án, mà là làm thế nào để các nguồn lực hiện có được kết nối hiệu quả hơn.

Theo ông Phan Hữu Thắng, Việt Nam hiện không thiếu những thành tố cần thiết để hình thành một hệ sinh thái công nghiệp. Việt Nam đã có khu vực FDI, hệ thống khu công nghiệp, khu công nghệ cao, ngân hàng và các tổ chức tài chính, doanh nghiệp trong nước, các trường đại học, viện nghiên cứu, nguồn nhân lực, logistics, thị trường trong nước và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng lớn. Tuy nhiên, điểm nghẽn nằm ở chỗ các thành tố này chưa phải lúc nào cũng vận hành như một hệ thống thống nhất.

Trong đó, một doanh nghiệp FDI có thể có nhu cầu lớn về nhà cung ứng; doanh nghiệp Việt Nam có sản phẩm và mong muốn tham gia chuỗi cung ứng; ngân hàng có nguồn vốn; khu công nghiệp có hạ tầng; trường đại học có nguồn nhân lực; trung tâm công nghệ có giải pháp. Nhưng theo TS. Phan Hữu Thắng, nếu các nguồn lực đó không được kết nối đúng lúc, đúng đối tượng và bằng cơ chế phù hợp, giá trị tổng thể vẫn chưa được phát huy đầy đủ.

Đặc biệt, FDI không thể phát triển tách rời khu công nghiệp, khu công nghệ cao; trong khi khu công nghiệp và khu công nghệ cao cũng không thể tách rời hạ tầng, năng lượng, logistics, tài chính, công nghệ, nhân lực, doanh nghiệp trong nước, thị trường và chuỗi cung ứng.

Từ cách tiếp cận đó, một dự án FDI không chỉ được nhìn dưới góc độ nhà máy, lao động và xuất khẩu, mà cần đặt trong mối liên kết với hệ thống nhà cung ứng, công nghệ, tài chính và doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước đi sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Trong bối cảnh đó, theo ông Phan Hữu Thắng, mục tiêu dài hạn không nên chỉ dừng ở việc doanh nghiệp Việt Nam làm gia công, thầu phụ hay cung cấp những sản phẩm đơn giản, mà phải từng bước hình thành các nhà cung ứng cấp một, cấp hai có năng lực cao hơn và tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng lớn hơn.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%.

Từ thu hút FDI đến kết nối hệ sinh thái công nghiệp

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Đối với công nghiệp, tinh thần này tập trung vào nâng cao chất lượng dòng vốn, phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao, tăng tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng của khu vực FDI.

Theo TS. Phan Hữu Thắng, để những định hướng đó đi vào thực tế, trước hết cần tăng kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, thay vì để doanh nghiệp trong nước tự tìm đường vào chuỗi cung ứng, cần hình thành các chương trình tìm kiếm, đánh giá, nâng cấp và kết nối nhà cung ứng Việt Nam với các doanh nghiệp FDI có nhu cầu cụ thể.

Bên cạnh đó, các khu công nghiệp và khu công nghệ cao cần được đặt trong mối liên kết trực tiếp với chuỗi cung ứng. Mỗi khu cần từng bước xác định rõ nhóm ngành muốn thu hút, tập đoàn mục tiêu, chuỗi cung ứng đi kèm và những doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tham gia.

Theo ông Phan Hữu Thắng, nếu khu công nghiệp chỉ dừng ở cung cấp đất và hạ tầng thì chưa đủ. Khu công nghiệp cần trở thành không gian kết nối doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, tài chính, công nghệ, nhân lực và logistics.

Một mắt xích khác là tài chính cho doanh nghiệp cung ứng. Muốn đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn FDI, doanh nghiệp Việt Nam thường phải đầu tư lớn vào máy móc, công nghệ, hệ thống quản trị chất lượng, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực và vốn lưu động.

Trong khi đó, đây lại là nhóm doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong tiếp cận vốn trung và dài hạn với chi phí phù hợp. Vì vậy, theo ông Phan Hữu Thắng, tài chính cho công nghiệp cần được nhìn rộng hơn tín dụng truyền thống, hướng tới tài chính chuỗi cung ứng, tài chính xanh, tài chính công nghệ, tín dụng dài hạn, bảo lãnh, vốn cổ phần và các mô hình tài chính dựa trên hợp đồng, dòng tiền của chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, khi doanh nghiệp Việt Nam đã có hợp đồng cung ứng dài hạn với một tập đoàn FDI lớn, chính hợp đồng và dòng tiền của chuỗi có thể trở thành cơ sở để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính phục vụ nâng cấp sản xuất.

Cùng với tài chính, ông Phan Hữu Thắng cho rằng cần tăng kết nối công nghệ với doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu không chỉ là thu hút công nghệ vào Việt Nam, mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam học hỏi, hấp thụ, làm chủ và từng bước phát triển công nghệ.

Từ đó, ông đề xuất thúc đẩy các chương trình tài chính phục vụ hệ sinh thái công nghiệp, tài chính dành cho nhà cung ứng Việt Nam, kết nối doanh nghiệp FDI với nhà cung ứng trong nước và xây dựng nền tảng liên kết giữa khu công nghiệp, tài chính và chuỗi cung ứng.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.

Nguyễn Hoà

Có thể bạn quan tâm