Từ Z111 đến câu hỏi lớn hơn
Hành trình của nhà máy Z111 từ xưởng sửa chữa súng năm 1957 đến dây chuyền tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo súng STV "Made in Vietnam" đã được phản ánh trong hai bài viết trước của tuyến bài. Đó là minh chứng cụ thể cho bốn trụ cột tự chủ chiến lược về công nghiệp quốc phòng theo Nghị quyết 08-NQ/TW.
Song bức tranh cũng không phải hoàn hảo, một số linh kiện điện tử như chip điều khiển, cảm biến quang học, module GPS trong các sản phẩm tích hợp hiện đại vẫn phải nhập từ nước thứ ba. Câu hỏi đặt ra là mô hình Z111 có thể nhân rộng sang những lĩnh vực công nghệ vũ khí phức tạp hơn hay không và điều kiện tiên quyết để Việt Nam làm chủ công nghiệp quốc phòng ở tầng sâu hơn là gì.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam đã đưa ra những phân tích thẳng thắn.
Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam. Ảnh: Nguyên Khánh
Bài học cốt lõi: Làm chủ thực chất
Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu, hành trình của Z111 từ tiếp nhận chuyển giao công nghệ đến tự chủ hoàn toàn dây chuyền sản xuất là minh chứng cho tư duy phát triển công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường của Việt Nam. Nếu có chiến lược đúng, quyết tâm chính trị cao, đội ngũ nhân lực chất lượng và hệ sinh thái công nghiệp đồng bộ, Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiến tới làm chủ những công nghệ hiện đại hơn.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu nhấn mạnh, bài học quan trọng nhất từ Z111 là "làm chủ thực chất", chứ không dừng ở mức tiếp nhận công nghệ. Nhiều quốc gia nhập khẩu dây chuyền, lắp ráp hoặc nội địa hóa một phần sản phẩm, nhưng để tự thiết kế, cải tiến, nâng cấp theo yêu cầu tác chiến riêng thì cần năng lực khoa học công nghệ nội sinh rất mạnh. Z111 đi theo hướng đó: từ học tập công nghệ gốc, từng bước nội địa hóa linh kiện, vật liệu, quy trình sản xuất, đến chủ động cải tiến kỹ thuật. Đó là bước chuyển từ gia công quốc phòng sang sáng tạo quốc phòng.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu cho rằng, bài học từ Z111 có thể nhân rộng sang những lĩnh vực công nghệ vũ khí phức tạp hơn như tên lửa chiến thuật, radar, tác chiến điện tử, khí tài quang điện tử, phương tiện không người lái hay công nghệ phòng thủ mạng.
Tuy nhiên, mức độ khó sẽ tăng lên rất lớn. Các lĩnh vực này đòi hỏi nền tảng khoa học liên ngành sâu rộng, từ vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, điều khiển tự động đến công nghệ số và công nghệ lượng tử. Không thể áp dụng tư duy “mua công nghệ là có năng lực”, mà phải xây dựng năng lực hấp thụ, cải tiến và sáng tạo công nghệ của chính mình.
Ba điều kiện tiên quyết
Điều kiện đầu tiên là nền tảng khoa học, công nghệ quốc gia đủ mạnh. Công nghiệp quốc phòng hiện đại không thể tách rời trình độ phát triển của công nghiệp dân dụng, đặc biệt là cơ khí chính xác, luyện kim, hóa chất đặc chủng, điện tử vi mạch, công nghệ thông tin và tự động hóa. Thiếu hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ trong nước, sản xuất quốc phòng sẽ luôn phụ thuộc vào linh kiện, nguyên vật liệu và phần mềm từ bên ngoài.
Điều kiện thứ hai là nhân lực chất lượng cao. Một dây chuyền sản xuất có thể mua được, nhưng đội ngũ chuyên gia đủ khả năng giải mã, cải tiến và sáng tạo công nghệ phải được đào tạo lâu dài. Cần cơ chế đặc biệt để thu hút nhân tài khoa học kỹ thuật, gắn kết viện nghiên cứu, trường đại học với các nhà máy quốc phòng, đồng thời tạo môi trường để các nhà khoa học được thử nghiệm, thất bại và sáng tạo.
Điều kiện thứ ba là cơ chế phối hợp hiệu quả giữa công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dân sinh. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều công nghệ quân sự tiên tiến xuất phát từ khu vực dân sự hoặc phát triển theo mô hình lưỡng dụng. Khi doanh nghiệp công nghệ trong nước tham gia sâu vào chuỗi nghiên cứu, sản xuất quốc phòng, năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia sẽ được nâng lên nhanh hơn so với mô hình khép kín truyền thống.
Từ câu chuyện Z111, Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu khẳng định, tự chủ công nghiệp quốc phòng không phải là trạng thái đóng cửa tự làm tất cả, mà là khả năng độc lập về công nghệ cốt lõi, chủ động bảo đảm sản xuất, sửa chữa, nâng cấp và phát triển vũ khí theo nhu cầu chiến lược của đất nước.
Muốn đạt tới tầng sâu đó, Việt Nam cần kiên trì chiến lược đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản, công nghệ lõi và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là nền tảng của sức mạnh quốc gia trong thế kỷ XXI, vượt ra ngoài phạm vi quốc phòng đơn thuần.
Từ Z111 đến những câu hỏi về công nghệ lõi phức tạp hơn, tuyến bài "Tự chủ công nghiệp quốc phòng: Mệnh lệnh từ thực tiễn" cho thấy, con đường tự chủ chiến lược về công nghiệp quốc phòng của Việt Nam đã đi được những bước quan trọng, nhưng vẫn còn chặng đường dài phía trước, đòi hỏi tầm nhìn chiến lược và sự đầu tư bền bỉ.