
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam: “Luôn tự chủ chiến lược, không bị động, bất ngờ; xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với thế trận ngoại giao, kinh tế và thông tin; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đây chính là “lá chắn mềm” nhưng có sức mạnh đặc biệt”. Ảnh: Nguyên Khánh
Nhân dịp kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2026), phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam, làm sáng rõ 3 bài học có giá trị thời sự: thế trận lòng dân trong cấu trúc hành chính - quốc phòng mới sau sắp xếp đơn vị cấp tỉnh; chiến lược công nghiệp quốc phòng tự chủ - lưỡng dụng; và bảo vệ chân lý lịch sử trên không gian mạng.
“Pháo đài lòng dân” trong cấu trúc hành chính - quốc phòng mới
- Thưa Thiếu tướng, sau khi cả nước hoàn tất sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 7/2025, không gian và cấu trúc khu vực phòng thủ đã thay đổi căn bản. Theo Thiếu tướng, bài học tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân từ Điện Biên Phủ cần được kế thừa, phát triển ra sao trong cấu trúc hành chính - quốc phòng mới, đáp ứng yêu cầu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy” mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định?
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu:"Phương tiện chiến tranh có thể đổi thay, nhưng lòng dân là cốt lõi không bao giờ được phép đánh mất”, đây là một nhận định khái quát, một kết luận được kiểm chứng bằng thực tiễn lịch sử, tiêu biểu nhất là Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến thắng ngày 7/5/1954 chính là thắng lợi của một thế trận tổng hợp, trong đó thế trận lòng dân giữ vai trò quyết định.
Khi ta nói “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài”, thực chất là nói tới sự hội tụ của ba yếu tố: Niềm tin chính trị - sự đồng thuận xã hội - năng lực tổ chức huy động, nền tảng để chuyển hóa tiềm lực quốc gia thành sức mạnh chiến đấu thực tế.
Sau khi hoàn tất sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ tháng 7/2025, cấu trúc không gian phát triển và tổ chức khu vực phòng thủ đã có những thay đổi căn bản: quy mô lớn hơn, tính liên kết vùng cao hơn, quản trị theo hướng tinh gọn - hiệu lực - hiệu quả.
Điều này đặt ra yêu cầu mới, không thể “sao chép cơ học” mô hình cũ, mà phải phát triển sáng tạo bài học Điện Biên Phủ trong điều kiện mới.
Một là, giữ vững lòng dân trong bối cảnh không gian quản trị mở rộng. Phải làm cho người dân thực sự là chủ thể của khu vực phòng thủ. Xây dựng lòng dân bằng lợi ích thiết thực, công bằng xã hội và niềm tin vào thể chế. Nếu lòng dân ly tán, dù vũ khí hiện đại đến đâu cũng khó tạo thành sức mạnh bền vững.
Hai là, tái cấu trúc khu vực phòng thủ theo hướng liên kết - đa tầng - linh hoạt. Trong điều kiện mới, khu vực phòng thủ không còn bó hẹp theo địa giới hành chính truyền thống, mà cần liên kết liên tỉnh, liên vùng để tạo thế trận chiều sâu chiến lược; kết hợp chặt chẽ giữa phòng thủ quân sự với an ninh phi truyền thống (an ninh mạng, kinh tế, năng lượng, xã hội...); phát triển mô hình “pháo đài số”, nơi mỗi địa phương vững về quân sự, vững về dữ liệu, thông tin và hạ tầng số.
Bài học “biến ít thành nhiều, lấy nhỏ thắng lớn” từ Điện Biên Phủ hôm nay phải chuyển hóa thành năng lực tổ chức không gian phòng thủ thông minh, thích ứng nhanh với các hình thái chiến tranh mới.
Ba là, xây dựng lực lượng toàn dân gắn với nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Nếu năm 1954, sức dân được huy động chủ yếu qua hậu cần, dân công, thì hiện nay cần mở rộng: mỗi người dân là một “chiến sĩ số” trong bảo vệ chủ quyền không gian mạng, đấu tranh thông tin; doanh nghiệp, trí thức, thanh niên… trở thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ kinh tế, công nghệ, chuỗi cung ứng; lực lượng vũ trang địa phương phải tinh, gọn nhưng có khả năng hiệp đồng cao. Chiến tranh nhân dân không mất đi, mà chuyển hóa về hình thức và phương thức, phù hợp thời đại số và hội nhập quốc tế.
Bốn là, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng. Bài học xuyên suốt từ Điện Biên Phủ là: hậu phương vững thì tiền tuyến mạnh. Mỗi quy hoạch phát triển vùng, đô thị, hạ tầng đều phải tích hợp yếu tố quốc phòng, an ninh ngay từ đầu. Đặc biệt chú trọng các địa bàn trọng yếu, biên giới, biển đảo - nơi lòng dân vừa là tuyến đầu, vừa là chiều sâu của quốc phòng.
Năm là, chủ động “giữ nước từ khi nước chưa nguy” bằng sức mạnh tổng hợp. Tinh thần Hiệp định Geneva (21/7/1954) cho thấy thắng lợi trên chiến trường phải được chuyển hóa thành thắng lợi chính trị - ngoại giao.

Những người chỉ huy trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cùng thảo luận Kế hoạch tác chiến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp (áo đen) vào tháng 3/1954. 17h30 ngày 13/3/1954, Đại tướng ra lệnh nổ súng. Đợt tấn công đầu tiên diễn ra từ ngày 13/3 đến 17/3. Sau 5 ngày, quân ta làm chủ Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo. Ảnh tư liệu
“Bội số sức mạnh” của trí tuệ Việt
- Thưa Thiếu tướng, nhà báo Pháp Jules Roy từng viết: Tướng Navarre bị đánh bại không phải bởi viện trợ bên ngoài, mà bởi “những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200 - 300kg hàng” cùng trí thông minh và quyết tâm của một dân tộc. Vậy, bài học lịch sử từ trận Điện Biên Phủ với chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, lưỡng dụng và hệ sinh thái khoa học - công nghệ quân sự hôm nay là gì, thưa Thiếu tướng?
Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu: Đây là một nhận định tôi rất tâm đắc của nhà báo Pháp Jules Roy. Khi ông đề cập đến những “chiếc xe đạp Peugeot thồ 200 - 300kg”, thực chất đã chạm tới bản chất của Chiến dịch Điện Biên Phủ, sức mạnh quyết định không nằm ở phương tiện, mà ở cách một dân tộc tổ chức, sáng tạo và làm chủ phương tiện đó - một chiến thắng của trí tuệ Việt Nam trong điều kiện vật chất hạn chế.
Đặt trong bối cảnh hôm nay, khi khoa học - công nghệ trở thành “bội số sức mạnh”, bài học từ Điện Biên Phủ không hề cũ đi, mà ngược lại, càng trở nên thời sự.
Tại Điện Biên Phủ, ta không có ưu thế về vũ khí hiện đại, nhưng có khả năng tự tổ chức hậu cần, tự cải tiến phương tiện, tận dụng mọi nguồn lực trong nước. Những chiếc xe đạp thồ là biểu tượng của tư duy “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu chống mạnh”.
Hôm nay, điều đó chuyển hóa thành yêu cầu chiến lược: phát triển công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ; làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ nền - trí tuệ nhân tạo (AI), vi điện tử, không gian mạng, vật liệu mới… nếu không có nội lực, công nghệ hiện đại dù có trong tay cũng khó phát huy đầy đủ hiệu quả, thậm chí trở thành điểm yếu bị khống chế.
Điện Biên Phủ cho thấy trí thông minh, ý chí và sáng tạo của con người có thể “nhân bội” giá trị của phương tiện thô sơ.
Trong điều kiện hiện nay, con người vẫn là yếu tố quyết định, nhưng phải là con người số, con người tri thức cao. Cần xây dựng đội ngũ khoa học - công nghệ quân sự tinh nhuệ, có khả năng nghiên cứu, thiết kế, làm chủ và cải tiến vũ khí, trang bị.
Nói cách khác, “xe đạp thồ” của thời đại mới chính là trí tuệ Việt Nam trong không gian số và công nghệ cao.
Một trong những nhân tố làm nên thắng lợi năm 1954 là sự huy động toàn dân vào bảo đảm hậu cần chiến dịch. Bài học này hôm nay cần được nâng lên một tầm mới, kết hợp chặt chẽ giữa quân sự và dân sự; hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi doanh nghiệp dân sự, viện nghiên cứu, trường đại học cùng tham gia chuỗi giá trị quốc phòng. Điều này vừa tăng hiệu quả đầu tư, vừa tạo ra thế trận khoa học - công nghệ toàn dân, tương tự “thế trận hậu cần nhân dân” trong quá khứ.
Từ việc kéo pháo vào, kéo pháo ra, đến tổ chức vận tải bằng xe đạp thồ… tất cả đều thể hiện một đặc trưng, không rập khuôn, không lệ thuộc, luôn sáng tạo theo thực tiễn. Trong chiến tranh hiện đại, không thể đi theo lối mòn công nghệ của các nước lớn. Phải lựa chọn hướng đi “đi tắt, đón đầu” có chọn lọc; phát triển các giải pháp phi đối xứng, chi phí thấp nhưng hiệu quả cao, tạo bất ngờ chiến lược, đây chính là sự kế thừa trực tiếp tinh thần Điện Biên Phủ trong môi trường tác chiến công nghệ cao.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không phủ nhận vai trò của yếu tố quốc tế, nhưng cốt lõi vẫn là nội lực dân tộc. Chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ quân sự; nhưng phải giữ vững tính độc lập, tự chủ trong chiến lược phát triển và sử dụng công nghệ. Chỉ khi làm chủ được mình, mới có thể tận dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài.
Nếu năm 1954, những chiếc xe đạp thồ đã làm nên kỳ tích, thì trong thế kỷ XXI, kỳ tích mới sẽ được tạo nên bởi trí tuệ Việt Nam làm chủ công nghệ hiện đại, nhưng tinh thần cốt lõi không thay đổi: "Lấy yếu tố con người làm gốc, lấy sáng tạo làm đột phá, và lấy tự chủ làm nguyên tắc sống còn".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chỉ huy trưởng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi kế hoạch “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” trong 3 ngày không chắc thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cân nhắc rất kỹ và quyết định chuyển sang phương án “Đánh chắc, tiến chắc”. Ảnh: Getty.
“Đánh chắc, tiến chắc” trên trận địa tư tưởng - thông tin
- Thưa Thiếu tướng, quyết định chuyển phương châm từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được xem là quyết định khó khăn nhất nhưng đúng đắn nhất trong cuộc đời cầm quân của ông. Phương châm đúng đắn đó và bài học bảo vệ chân lý lịch sử cần được vận dụng ra sao trong đấu tranh tư tưởng - lý luận hiện nay?
Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu: Quyết định chuyển từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một lựa chọn mang tầm tư duy chiến lược, là trách nhiệm chính trị của Đại tướng trước Tổ quốc, trước Đảng, Bác Hồ, trước Nhân dân và tính mạng mỗi người chiến sĩ; đặt sự đúng đắn, chắc thắng và bảo toàn lực lượng lên trên mọi áp lực về thời gian.
Khi chuyển sang không gian đấu tranh tư tưởng - lý luận hôm nay, tinh thần ấy càng có giá trị phương pháp luận sâu sắc.
Trong bối cảnh các hình thái xâm lấn đã mở rộng sang không gian mạng, nhận thức và thông tin, “đánh chắc, tiến chắc”, trở thành nguyên tắc xử lý thông tin, định hướng dư luận và bảo vệ chân lý lịch sử.
Trong đó, “đánh chắc” là kiên định nền tảng, lấy sự thật lịch sử làm điểm tựa. Trong đấu tranh tư tưởng, điều nguy hiểm nhất không phải là sự xuyên tạc ồn ào, mà là sự xói mòn niềm tin âm thầm. Phải kiên định những giá trị đã được kiểm chứng bằng lịch sử, đặc biệt là ý nghĩa và tầm vóc của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Mọi phản bác phải dựa trên tư liệu xác thực, lập luận khoa học, không cảm tính, không cực đoan - giữ vững trận địa bằng sự thật và lý lẽ có kiểm chứng.
“Tiến chắc” là chủ động dẫn dắt, không chỉ phòng ngự. Nếu chỉ phản ứng trước các luận điệu sai trái thì luôn ở thế bị động.
Tinh thần “tiến chắc” đòi hỏi chủ động cung cấp thông tin chính thống, hấp dẫn, dễ tiếp cận, đặc biệt trên nền tảng số; đổi mới cách kể chuyện lịch sử từ khô cứng sang sinh động, đa phương tiện, gần gũi với công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Tù binh Pháp ở Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 quân địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự, bắn rơi nhiều máy bay; xóa sổ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương của quân đội Pháp. Ảnh tư liệu
Tại Điện Biên Phủ ta đã tạo được thế trận bao vây, chia cắt, làm đối phương suy yếu dần. Trong không gian thông tin hiện nay: “Lực” là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan truyền thông, lực lượng đấu tranh trên mạng; “thế” là môi trường thông tin lành mạnh, niềm tin xã hội, sự đồng thuận của cộng đồng.
Muốn “đánh chắc, tiến chắc” phải đồng thời xây dựng cả hai: phản bác sai trái, tạo “miễn dịch xã hội” trước thông tin độc hại.
Một trong những giá trị lớn của quyết định lịch sử năm 1954 là dám chấp nhận chậm để chắc thắng.
Xin trân trọng cảm ơn Thiếu tướng!
"Trong đấu tranh tư tưởng hôm nay, không thể “thắng nhanh” trước các quan điểm sai trái, đây là cuộc đấu tranh lâu dài. Cần tránh tâm lý nóng vội, quy chụp, hoặc sử dụng những cách phản bác thiếu chuẩn mực, vì có thể phản tác dụng. “Tiến chắc” là từng bước củng cố nhận thức đúng đắn, từng bước làm suy giảm ảnh hưởng của thông tin sai lệch. Bảo vệ giá trị của Chiến thắng Điện Biên Phủ chính bằng kết quả phát triển đất nước hôm nay. Khi người dân tin vào đường lối, vào thành tựu thực tế, thì các luận điệu xuyên tạc lịch sử sẽ tự mất đất sống.
Và cũng như năm 1954, khi ta giữ vững được “trận địa lòng người”, mọi xuyên tạc dù tinh vi đến đâu cũng không thể làm thay đổi bản chất của sự thật lịch sử", Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam khẳng định.



