Kỳ 3: Mười nghị quyết và một khát vọng
Trong vòng hơn 1 năm, từ tháng 12/2024 đến tháng 2/2026, 10 nghị quyết được Đảng ta ban hành. Nhìn riêng lẻ, mỗi văn kiện định hướng chiến lược phát triển một lĩnh vực. Nhưng đặt cạnh nhau dưới tầm nhìn dài hạn, trong mối quan hệ biện chứng, hệ thống 10 nghị quyết thể hiện khát vọng lớn lao: xây dựng, kiến tạo một quốc gia tự lực, tự cường và tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

10 nghị quyết thể hiện khát vọng lớn lao: xây dựng, kiến tạo một quốc gia tự lực, tự cường và tự chủ chiến lược trong kỷ mới của dân tộc. Ảnh: Khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tự chủ chiến lược trong 10 nghị quyết
Mười nghị quyết trải rộng trong nhiều lĩnh vực được Đảng ta ban hành từ tháng 12/2024 đến nay đã tạo nên những dấu ấn đậm nét, tác động sâu rộng tới nhiều lĩnh vực.
Đó là: Nghị quyết 57/NQ-TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 70 - NQ/TW về đảm bảo an ninh năng lượng; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam; và gần đây nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, nhiều chuyên gia thống nhất quan điểm rằng, các Nghị quyết này là bản thiết kế tổng thể cho sự phát triển đất nước trong dài hạn, có tầm nhìn hàng trăm năm.

Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 79 và 80-NQ/TW sáng 25/2/2026. Ảnh: VGP
Không phải ngẫu nhiên khi các từ: "tự chủ", "tự lực", "tự cường", "nội lực", "độc lập"; "bền vững" xuất hiện trong 10 văn kiện nêu trên. Có thể khẳng định, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự cường, tự lực chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hệ thống các văn kiện, Nghị quyết mà Đảng ta đã ban hành trong thời gian vừa qua.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam sáng 25/2/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã nêu rõ: "Hai Nghị quyết mới là sự bổ sung thêm những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường "nội lực vật chất" và củng cố "nội lực tinh thần". Khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, năng động, hiệu quả gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cho biết: "Tự chủ chiến lược cần được hiểu không phải là sự cô lập, mà là khả năng tham gia vào thế giới trên những điều kiện bình đẳng hơn, tự tin hơn và bền vững hơn. Phát triển kinh tế, khi được neo đậu vào cải cách cơ cấu, nền tảng thể chế vững chắc và khả năng phục hồi dài hạn, sẽ trở thành công cụ tự chủ mạnh mẽ nhất trong một thế giới đầy bất định".
Theo TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, một nền kinh tế lớn lên bằng nội lực phải là nền kinh tế biết thích nghi, biết đổi mới và nâng cao được năng lực cạnh tranh của chính mình trong điều kiện bên ngoài không còn thuận lợi như trước. Chỉ khi doanh nghiệp trong nước chuyển dịch được sang những lĩnh vực, sản phẩm và thị trường phù hợp hơn, thì tăng trưởng mới có thể bền vững và có chất lượng.

Đổi "đường ray", tìm "xa lộ"
Nhìn vào nội hàm của 10 nghị quyết, nổi lên những đột phá tư duy mạnh mẽ. Đó không phải là những điều chỉnh ngắn hạn mà là bước ngoặt trong cách Đảng ta hoạch định chính sách đối với từng khu vực trong hành trình tự chủ.
Đơn cử, Nghị quyết 70 ra đời tháng 8/2025 trong bối cảnh địa chính trị thế giới nhiều biến động và yêu cầu đảm bảo năng lượng cho tăng trưởng hai con số. Nghị quyết 70 đặt ra yêu cầu tự chủ năng lượng theo ba tầng: Tự chủ nguồn cung (giảm nhập khẩu LNG và dầu thô, đẩy mạnh điện gió ngoài khơi và điện mặt trời); tự chủ hạ tầng (làm chủ lưới điện thông minh, hạ tầng lưu trữ, cơ chế DPPA cho phép doanh nghiệp mua điện tái tạo trực tiếp); và tự chủ công nghệ (nội địa hóa thiết bị điện tái tạo, đào tạo nhân lực năng lượng xanh). Mục tiêu cụ thể là đưa tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 25-30% tổng sản lượng điện vào năm 2030.


Mục tiêu cụ thể của Nghị quyết 70 là đưa tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 25 - 30% tổng sản lượng điện vào năm 2030. Ảnh: PV.
Cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn (DPPA) được nêu trong Nghị quyết 70 là điểm đột phá đặc biệt quan trọng với ngành Công Thương. Cơ chế này cho phép doanh nghiệp sản xuất ký hợp đồng mua điện tái tạo trực tiếp với nhà máy điện, đáp ứng yêu cầu ESG của các tập đoàn công nghệ lớn như: Apple, Samsung, Intel vốn cam kết sử dụng 100% năng lượng tái tạo trong chuỗi cung ứng. Không có DPPA, Việt Nam có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng xanh toàn cầu trong thập kỷ tới, một tổn thất không thể bù đắp bằng bất kỳ chính sách thu hút FDI nào khác.
TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư hạ tầng năng lượng trong mối quan hệ với tự chủ chiến lược: "An ninh kinh tế bao gồm ổn định tài chính, khả năng phục hồi chuỗi cung ứng, an ninh năng lượng và an ninh lương thực, ngày càng không thể tách rời khỏi chiến lược phát triển". Ông đặc biệt nhấn mạnh: "Cần thiết phải đẩy nhanh đầu tư công vào hạ tầng giao thông và năng lượng nhằm tạo ra hiệu ứng lan tỏa và thúc đẩy tăng trưởng cao".
Ngoài bài toán cung cấp điện, Nghị quyết 70 còn chứa đựng một tầm nhìn phát triển ngành công nghiệp rộng hơn. Đó là, nội địa hóa thiết bị điện tái tạo để chuỗi giá trị năng lượng sạch không chỉ mang lại điện năng mà còn tạo ra năng lực sản xuất và việc làm chất lượng cao ngay trong nước. Đây là hướng đi mà Nghị quyết 57 (phát triển khoa học công nghệ) và Nghị quyết 68 (phát triển kinh tế tư nhân) cùng hướng tới đó là dùng nhu cầu nội địa lớn làm bàn đạp để xây dựng ngành công nghiệp có sức cạnh tranh xuất khẩu.

Năng lượng tái tạo là một trụ cột quan trọng của quá trình chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam. Ảnh: Hiền Mai
Đột phá tiếp theo là Nghị quyết 59, hội nhập quốc tế được đặt cạnh tự chủ thay vì đối lập với tự chủ. PGS.TS Đinh Trọng Thịnh giải thích nguyên lý này rõ ràng: "Nội lực là yếu tố quyết định, nhưng ngoại lực vẫn là nguồn bổ trợ rất quan trọng. Tăng trưởng bền vững phải là sự kết hợp hài hòa giữa việc củng cố năng lực sản xuất trong nước với việc thu hút, chọn lọc và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài".
Đối với phát triển kinh tế, lần đầu tiên Đảng ta ban hành hai nghị quyết riêng cho kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79) và kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68) trong một khoảng thời gian ngắn. Hai nghị quyết thể hiện rõ nét, hai thành phần kinh tế này không đối lập, mà phân định rõ vai trò. Kinh tế nhà nước mạnh, trở thành "bệ đỡ", "mở đường" và "tiếp sức" để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ đó hình thành những cụm liên kết ngành với những "đầu tàu" đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Đối với Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước, "kinh tế nhà nước" hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà là toàn bộ tài sản quốc gia (đất đai, tài nguyên, vùng biển, vùng trời, ngân sách, dự trữ quốc gia). Đồng thời, yêu cầu kinh tế nhà nước phải chứng minh vai trò chủ đạo bằng hiệu quả và năng lực dẫn dắt.

Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân gửi đi một thông điệp rõ ràng rằng khu vực kinh tế tư nhân không còn là “bổ trợ”, mà trở thành một trong những động lực trung tâm của nền kinh tế Việt Nam. Ảnh: PV
Mang ý nghĩa tổng thể, bao trùm, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra những mục tiêu rất cao mà hệ thống 9 Nghị quyết đã ban hành trước đó với hệ thống giải pháp rõ nét, hướng tới. Đó là, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 50%.
Tổng tích luỹ tài sản khoảng 35 - 36% GDP; tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.
Động lực phát triển mới của đất nước hình thành từ chính các mối liên kết hữu cơ giữa 10 Nghị quyết của Đảng.
Thực thi, thước đo thành công
Mười nghị quyết dù đồng bộ đến đâu cũng chỉ là văn bản, nó thực sự đi vào cuộc sống khi được triển khai và tạo ra kết quả đo đếm được. Nhìn lại hành trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, có thể nhận thấy 2 bài học đó là khi thể chế và chính sách đúng hướng và triển khai quyết liệt, Việt Nam có thể làm những điều phi thường.
10 nghị quyết lần này có một điểm khác biệt về tính ràng buộc. Đơn cử, Nghị quyết 79 yêu cầu kinh tế nhà nước chứng minh vai trò chủ đạo "bằng năng lực dẫn dắt, bằng hiệu quả, bằng đóng góp thực chất", không phải bằng quy mô tài sản. Nghị quyết 70 đặt mục tiêu định lượng rõ về tỷ lệ điện tái tạo..., chỉ tiêu hoàn toàn có thể kiểm chứng qua từng năm...

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị. Ảnh: VGP
10 nghị quyết, một tầm nhìn thế kỷ. Phần còn lại và khó nhất đó chính là thực thi.
Chỉ thị số 01-CT/TW của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nêu rõ: Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả nhiệm kỳ; kịp thời cập nhật và bổ sung Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ, chi bộ ở từng cấp gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện sự quyết tâm, đổi mới sáng tạo, bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng ngày 10/2/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã yêu cầu: “Không thể để tình trạng nghị quyết thì đúng, tổ chức thực hiện thì yếu, chậm trễ, hiệu quả thấp mà không có ai chịu trách nhiệm cụ thể. Không được phép để sự yếu kém trong tổ chức và con người làm chậm bước tiến của quốc gia, bởi thời gian là nguồn lực phát triển đặc biệt quan trọng và không thể tái tạo, chậm trễ trong tổ chức thực hiện không chỉ làm lãng phí nguồn lực, mà còn làm giảm tốc độ và đánh mất thời cơ phát triển của đất nước”.
Với những đột phá và thiết kế tổng thể trong các nghị quyết, sự chỉ đạo quyết liệt của Ban chấp hành Trung ương, những giải pháp được nêu ra tại các Nghị quyết đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ được triển khai đồng bộ, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nền kinh tế có quy mô trong nhóm 30 nước hàng đầu trên thế giới.
Đó là nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, phát triển bền vững, bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau.
Xác lập mô hình tăng trưởng mới
"Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực".
Trích Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Mời độc giả đón đọc Kỳ 4: "Công Thương: Bài toán của đầu tàu trụ cột"



