TS. Phạm Việt Dũng nêu 6 yếu tố rút ngắn quá trình công nghiệp hóa cho Việt Nam

Theo TS. Phạm Việt Dũng, vận dụng có chọn lọc mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ của các nước giúp Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên mới.

Tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: “Trên cơ sở quán triệt sâu sắc, kế thừa và phát triển sáng tạo các định hướng lớn trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành, phải nắm bắt được mối quan hệ hữu cơ giữa những điểm đột phá của từng nghị quyết để kết tinh thành một chỉnh thể thống nhất, tạo thành khung tư duy phát triển nhất quán, đồng bộ, có sức dẫn dắt dài hạn; mô hình phát triển mới phải quán xuyến một cách toàn diện các khía cạnh của chiến lược phát triển...”.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xoay quanh nội dung chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong Đề án “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” và một số chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, TS. Phạm Việt Dũng, Trưởng ban Kinh tế, Tạp chí Cộng sản nhận định, công nghiệp hóa và hiện đại hóa là con đường bắt buộc giúp nhiều quốc gia châu Á thoát nghèo, vượt bẫy thu nhập trung bình để gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế phát triển.

Kinh nghiệm thực tiễn từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc trong việc áp dụng các mô hình phát triển đặc thù, kết hợp giữa nhà nước và thị trường để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành các nền kinh tế công nghiệp phát triển hoặc mới nổi có thu nhập cao, chính là những bài học quý giá, đặc biệt có giá trị tham chiếu cho Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng hiện nay.

TS. Phạm Việt Dũng - Trưởng ban Kinh tế, Tạp chí Cộng sản. Ảnh: Nguyên Khánh

TS. Phạm Việt Dũng - Trưởng ban Kinh tế, Tạp chí Cộng sản. Ảnh: Nguyên Khánh

Ba mô hình, một tư duy chuyển đổi

Theo TS. Phạm Việt Dũng, điểm chung nổi bật nhất ở cả ba quốc gia là tư duy chuyển đổi theo giai đoạn. Không quốc gia nào cố định mãi một mô hình phát triển, mà liên tục điều chỉnh chiến lược công nghiệp phù hợp với xu thế và năng lực nội tại từng thời kỳ.

Nhật Bản bắt đầu công nghiệp hóa từ cuối thập niên 1940 với chiến lược thay thế nhập khẩu, tập trung vào các ngành sử dụng nhiều lao động và ít vốn. Bước vào thập niên 1960, Nhật Bản chuyển mạnh sang định hướng xuất khẩu, đưa tàu biển, điện tử, xe máy, ôtô ra thị trường thế giới.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1950-1962 của Nhật Bản đạt trung bình 10,5%/năm liên tục trong 12 năm, công nghiệp tăng từ 13,5 - 15,9%/năm. Từ giữa thập niên 1980, khi nhiều ngành truyền thống như than, hóa dầu, đóng tàu mất sức cạnh tranh, Nhật Bản chuyển hướng sang mô hình bền vững hội nhập, đặt cược vào vật liệu mới, bán dẫn, công nghệ thông tin. Đến năm 2013, Chiến lược toàn diện về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được ban hành, hướng tới thông minh hóa và toàn cầu hóa trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Hàn Quốc khởi động công nghiệp hóa từ năm 1962 với điểm xuất phát thấp hơn, nhưng đã duy trì liên tục bảy kế hoạch 5 năm, mỗi giai đoạn có mục tiêu ngành nghề rõ ràng. Từ công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động (dệt, da, giày) giai đoạn đầu, Hàn Quốc nâng lên công nghiệp nặng và hóa chất (đóng tàu, luyện kim, hóa dầu) giai đoạn 1972-1981, rồi tiến tới điện tử, sinh hóa, nguyên tử trong thập niên 1980. Tháng 6/2014, Hàn Quốc ra mắt Chiến lược "Cải cách công nghiệp sản xuất 3.0" với nhiệm vụ trọng tâm tạo ra giá trị mới và tăng khả năng cạnh tranh bằng cách đưa công nghệ thông tin vào các nhà máy, xây dựng hệ thống nhà máy thông minh.

Trung Quốc có lộ trình khác biệt hơn, nhưng cũng thể hiện tư duy chuyển đổi nhất quán. Giai đoạn 1978 - 1991, Trung Quốc ưu tiên công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động, ít vốn. Từ năm 1992, ngành công nghiệp của Trung Quốc chuyển hướng mạnh về xuất khẩu, thu hút FDI có chọn lọc theo tiêu chí công nghệ cao.

Năm 2015, chiến lược "Made in China 2025" với mục tiêu đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc chế tạo của thế giới với trình độ công nghệ tiên tiến và sáng tạo hàng đầu thế giới, đồng thời xác định mười lĩnh vực ưu tiên. Hiện nay, rất nhiều lĩnh vực ngành chế tạo của Trung Quốc đã đạt tới trình độ tiên tiến trên thế giới như Robot công nghiệp; năng lượng hạt nhân…

Sáu yếu tố tạo nên sự thành công

Phân tích, đánh giá nguyên nhân tạo nên sự thành công của các mô hình ở các quốc gia nói trên, TS. Phạm Việt Dũng cho hay, để có được thành công, nguyên nhân chính là thực hiện các chính sách phù hợp để chuyển đổi mô hình phát triển; đồng thời chỉ ra 6 yếu tố để tạo nên thành công.

Thứ nhất, chính sách linh hoạt theo từng giai đoạn. Ba quốc gia này không áp đặt một công thức cứng nhắc, mà liên tục điều chỉnh ưu tiên ngành nghề theo năng lực thực tế và nhu cầu thị trường. Giai đoạn đầu tập trung ngành thâm dụng lao động, đến giai đoạn phát triển cao thì chuyển sang giá trị gia tăng cao và luôn bố trí nguồn lực phù hợp cho từng mục tiêu.

Thứ hai, tăng cường liên kết chuỗi giá trị. Nhật Bản ban hành hàng loạt luật bảo vệ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quan hệ thầu phụ với các tập đoàn lớn. Hàn Quốc thiết lập mô hình liên kết win-win giữa đầu tàu và nhà cung ứng. Trung Quốc xây dựng chính sách học hỏi công nghệ và chuyển từ liên kết ngang sang liên kết dọc trong chuỗi giá trị ngành ôtô, thu hút hầu hết các hãng xe lớn thế giới đầu tư trực tiếp vào thị trường nội địa.

Thứ ba, phân bố không gian công nghiệp hợp lý. Nhật Bản ban hành Luật Xúc tiến Di chuyển Khu công nghiệp năm 1972, hình thành các cụm liên kết công nghiệp gắn với trường đại học và viện nghiên cứu. Hàn Quốc phát triển từng cụm công nghiệp theo đặc thù vùng: may mặc ở Guro và Ulsan, sắt thép ở Pohang, điện tử ở Gumi. Trung Quốc xây dựng hơn 2.500 khu công nghiệp cấp quốc gia và tỉnh, bao phủ 80% doanh nghiệp công nghiệp và đóng góp hơn 50% GDP cả nước.

Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nội địa. Nhật Bản xây dựng các hiệp hội, tổ chức bảo lãnh tín dụng và xuất bản Sách trắng về Công nghiệp định kỳ. Hàn Quốc hỗ trợ 50% chi phí trang thiết bị cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, luật hóa hệ thống bảo lãnh tín dụng từ năm 1961. Trung Quốc ban hành Dự án Tăng trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2006 với chín mục tiêu toàn diện để hoàn thiện thể chế, khuyến khích doanh nghiệp mở rộng ra nước ngoài.

Thứ năm, đào tạo và thu hút nhân lực chất lượng cao. Cả ba quốc gia đều chi ngân sách giáo dục ở mức 4-6% GDP, đào tạo gắn liền nhu cầu doanh nghiệp. Nhật Bản đưa ra chính sách nhập cư hấp dẫn cho nhân lực kỹ thuật cao. Hàn Quốc hoàn lại 15% chi phí đầu tư vào nghiên cứu phát triển và đào tạo. Trung Quốc thu hút kỹ sư Hoa kiều, tuyển chọn sinh viên du học tại Mỹ về nước và mời chuyên gia cao cấp từ các tập đoàn công nghệ toàn cầu.

Thứ sáu, phát triển khoa học công nghệ theo mô hình thích ứng chuyển đổi. Điểm đặc biệt là cả ba quốc gia không sao chép nguyên mẫu nước ngoài mà luôn cải tiến công nghệ nhập khẩu để thích nghi với điều kiện trong nước.

Đơn cử, Nhật Bản nhập công nghệ, mua bằng sáng chế, khuyến khích du học rồi về áp dụng thực tế; tạo điều kiện để các tập đoàn như Sony, Toyota, Softbank xây dựng trung tâm R&D quy mô lớn. Hàn Quốc dùng vay nước ngoài như công cụ khuyến khích nhập khẩu và tiếp thu công nghệ. Trung Quốc nỗ lực tạo ra một thể chế tốt hơn cho phát triển khoa học - công nghệ, hình thành một hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Những cách làm và chính sách hiệu quả nói trên, chính là bí quyết quyết giúp ba quốc gia rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa một cách đáng kể.

Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045, Việt Nam xác định đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chuyển dịch từ chiều rộng (vốn, lao động, tài nguyên) sang chiều sâu (khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số). Từ những nghiên cứu thành công của quá trình công nghiệp hóa của các nước, TS. Phạm Việt Dũng nhận định, Việt Nam có thể tham khảo những bài học từ kinh nghiệm quốc tế từ các nước nói trên, trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, tuy nhiên, cần vận dụng có chọn lọc.

Trong đó, cần bán sát những nội dung đột phá trong mô hình phát triển mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã định hướng: “Tổ chức đồng bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; Nhà nước đóng vai trò kiến tạo nhiệm vụ, có cơ chế đặt hàng nghiên cứu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thu hút nhân tài”.

Để hiện thực hoá những chỉ đạo trên, trước tiên, Việt Nam cần hoàn thiện bộ máy quản lý, khắc phục mâu thuẫn và thiếu đồng bộ trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công nghiệp. Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tỷ giá cạnh tranh; các mục tiêu đặt ra phù hợp bối cảnh từng giai đoạn và năng lực trong nước để bảo đảm tính khả thi.

Dẫn chứng các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều thực hiện chiến lược đầu tư hạ tầng dựa trên nền sản xuất hàng hóa để hướng về xuất khẩu mạnh mẽ, tạo thặng dư thương mại lớn. Trong khi, thặng dư thương mại của Việt Nam hiện chủ yếu đến từ khu vực FDI, chiếm khoảng 80% giá trị xuất khẩu. TS. Phạm Việt Dũng chỉ rõ, đây là điểm nghẽn cần được ưu tiên tháo gỡ thông qua các chính sách nâng cao nội lực doanh nghiệp nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết chuỗi giá trị.

Về định hướng ngành mũi nhọn, Việt Nam cần tập trung vào một số ngành có tiềm năng đột phá, đặc biệt là công nghiệp bán dẫn. Kinh nghiệm của cả ba quốc gia đều cho thấy, thành công đến từ sự tập trung có chọn lọc, không dàn trải, kết hợp với chính sách đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tế của từng ngành.

Công nghiệp hóa trong kỷ nguyên mới còn phải gắn với xanh hóa và chuyển đổi số. Chính sách công nghiệp của Việt Nam cần hướng đến phát triển bền vững, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh con người. Đây là đòi hỏi nội tại và là điều kiện để hàng hóa Việt Nam tiếp cận các thị trường phát triển có tiêu chuẩn cao về môi trường và xã hội.

"Quá trình công nghiệp hóa "rút ngắn" thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều bắt đầu từ những chính sách phù hợp, một Nhà nước kiến tạo có năng lực và một lực lượng nhân lực được chuẩn bị kỹ lưỡng. Việt Nam có lợi thế của người đi sau, có thể học hỏi cả thành công lẫn những hạn chế của các mô hình này để áp dụng có chọn lọc, thành chính sách thực tiễn, phù hợp với đặc thù và tầm nhìn phát triển dài hạn của đất nước, góp phần hiện thực hoá thắng lợi hai mục tiêu 100 năm do Đại hội XIV của Đảng đề ra", TS. Phạm Việt Dũng nói.

TS. Phạm Việt Dũng: “Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đã chứng minh rằng chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công. Việt Nam đang đứng trước cơ hội hiếm có để học hỏi và vận dụng cho giai đoạn phát triển bứt phá”.

Nguyên Khánh

Có thể bạn quan tâm