TS. Lê Minh Nghĩa: Chuyển đổi xanh nâng sức cạnh tranh cho hàng Việt

Theo TS. Lê Minh Nghĩa, khi chi phí và lợi ích của chuyển đổi xanh trở nên rõ ràng, doanh nghiệp sẽ nhìn nhận thấy đây là cơ hội nâng cấp vị thế cạnh tranh.

Khoảng trống giữa cam kết và năng lực thực thi

Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với nền kinh tế Việt Nam. Áp lực chuyển đổi ngày càng rõ nét khi Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, trong khi các thị trường xuất khẩu lớn liên tục nâng cao tiêu chuẩn về môi trường và phát thải carbon. Trong đó, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU đã bước vào giai đoạn áp dụng chính thức từ đầu năm 2026.

Ở trong nước, khung chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và thực hành ESG (Môi trường, xã hội và quản trị) cũng đang từng bước được hoàn thiện. Gần đây, Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg tiếp tục cụ thể hóa các tiêu chí, cơ chế liên quan đến dự án xanh, dự án tuần hoàn và việc áp dụng khung ESG, tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp định hướng đầu tư và chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, bền vững.

Tuy nhiên, từ cam kết đến hành động vẫn còn khoảng cách không nhỏ. Dòng vốn xanh mới chiếm hơn 4% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Phần đông doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn loay hoay với bài toán vốn, công nghệ và nhân lực.

Bàn luận xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA).

TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA).

TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA).

- Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong chuyển đổi sang kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay?

TS. Lê Minh Nghĩa: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức hay quyết tâm chính trị. Điểm nghẽn nằm ở khoảng trống giữa cam kết vĩ mô và năng lực thực thi ở cấp vi mô. Trước hết là quy mô tài chính xanh còn quá nhỏ so với nhu cầu thực tế. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của toàn hệ thống ngân hàng đạt gần 780 nghìn tỷ đồng. Con số này chỉ chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2017-2024 đạt trên 21%/năm, vượt xa tốc độ tăng tín dụng chung toàn ngành. Dù vậy, tỷ trọng chưa đến 5% cho thấy dòng vốn xanh vẫn chỉ là dòng phụ. Dòng vốn này chưa trở thành trụ cột của hệ thống tài chính.

Điểm nghẽn thứ hai là khung phân loại xanh dù đã được ban hành nhưng chưa đi vào thực tiễn. Danh mục phân loại xanh theo Quyết định 21/2025/QĐ-TTg và bộ tiêu chí xác định dự án xanh theo Quyết định 46/2026/QĐ-TTg (có hiệu lực từ 1/11/2026) đều mới ra đời. Các văn bản này chưa kịp phát huy tác dụng. Đây chính là lý do khiến vốn tín dụng xanh hiện nay tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản (33%) và năng lượng xanh (24,6%). Hai lĩnh vực này chiếm tổng cộng gần 58% dư nợ các lĩnh vực xanh. Trong khi đó, dư nợ dành cho công nghiệp xanh và công trình xây dựng xanh đến cuối quý I/2025 chỉ khoảng 25.000 tỷ đồng, tương đương 3,7% tổng dư nợ tín dụng xanh. Đây là một tỷ lệ rất khiêm tốn so với vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế.

Thứ ba, phải kể đến sức ép mới từ thị trường xuất khẩu. Thép là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm hàng chịu tác động của CBAM. Hệ số phát thải trung bình hiện nay của ngành thép Việt Nam vào khoảng 2,51 tấn CO2 cho mỗi tấn thép thô, cao hơn mức trung bình toàn cầu. Trong bối cảnh đó, một số dự báo cho rằng thị phần thép và nhôm Việt Nam tại EU có thể co hẹp khoảng 15% do áp lực từ cơ chế điều chỉnh biên giới carbon. Điều này cho thấy, chi phí "không chuyển đổi" đang trở nên rất cụ thể chứ không còn là rủi ro xa vời.

Thứ tư, ở cấp doanh nghiệp, khảo sát gần đây cho thấy bức tranh còn khá khiêm tốn. Có tới 64% doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa thực hiện bất kỳ hành động chuyển đổi xanh nào. Chỉ khoảng 5,5% doanh nghiệp đã cắt giảm phát thải ở một số hoạt động. Tỷ lệ doanh nghiệp đã theo dõi, công bố kết quả giảm phát thải chỉ là 3,8%. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới khoảng 95% cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, một tỷ lệ chuyển đổi thấp như vậy đồng nghĩa với việc phần lớn nền kinh tế thực chất vẫn đứng ngoài quá trình chuyển đổi xanh.

Tổng hợp lại, tôi cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất là sự thiếu đồng bộ giữa ba trụ cột thể chế, tài chính và năng lực thực thi. Điều này được phản ánh rất rõ qua chính các con số nêu trên. Muốn tháo gỡ, cần có cách tiếp cận hệ thống. Không thể giải quyết riêng lẻ từng mảng.

- Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp gặp khó trong quá trình chuyển đổi xanh, đặc biệt trong đầu tư đổi mới công nghệ và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả?

TS. Lê Minh Nghĩa: Khảo sát doanh nghiệp gần đây cho một bức tranh khá rõ về thứ tự ưu tiên các khó khăn. Thiếu vốn đầu tư là thách thức lớn nhất, được 50% doanh nghiệp lựa chọn. Tiếp theo là thiếu nhân sự kỹ thuật phù hợp với 46%. Thiếu giải pháp công nghệ xanh đứng thứ ba với 42%. Ba con số này gần như trùng khớp với những gì tôi quan sát được qua thực tiễn tư vấn cho các hội viên VFCA.

Về vốn, tín dụng xanh đã có những tiến bộ. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất hạn chế. Ngay tại một số địa phương, lãi suất cho vay lĩnh vực xanh ngắn hạn dao động 4-7%/năm, trung-dài hạn từ 9-11%/năm. Mức lãi suất trung dài hạn này chưa đủ hấp dẫn với các dự án có thời gian hoàn vốn dài như đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng. Một chuyên gia về quản lý bền vững từng chỉ ra rất đúng bản chất vấn đề. Theo đó, doanh nghiệp không chỉ cần chứng minh tính bền vững mà quan trọng hơn phải thể hiện được khả năng sinh lời. Lý do là tín dụng xanh hay vốn ODA đều phải hoàn trả chứ không phải tài trợ không hoàn lại.

Về công nghệ và năng lượng, tiềm năng tiết kiệm trong công nghiệp Việt Nam còn rất lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 (VNEEP3) đặt mục tiêu tiết kiệm 5-7% tổng năng lượng tiêu thụ trong giai đoạn 2019-2025. Mục tiêu cho cả giai đoạn 2019-2030 là 8-10%. Tuy vậy, các đánh giá gần đây của Bộ Công Thương vẫn nhận định kết quả thực hiện giữa các ngành, địa phương và doanh nghiệp chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp gặp khó về vốn, công nghệ, thời gian hoàn vốn khi triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng cụ thể.

Về nhân lực và năng lực quản trị, kết quả khảo sát Top 100 Doanh nghiệp ESG Việt Nam Xanh cho thấy chỉ khoảng một nửa số doanh nghiệp tham gia khảo sát áp dụng các chỉ số đo lường ESG theo chuẩn quốc tế. Đây là một khoảng cách đáng kể trong năng lực đo lường, báo cáo. Doanh nghiệp cần có năng lực này để tiếp cận vốn xanh hay đáp ứng yêu cầu của đối tác quốc tế.

Nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm áp đảo về số lượng. Với nhóm này, tôi cho rằng giải pháp thực tế trước mắt là những mô hình giảm áp lực vốn ban đầu. Doanh nghiệp có thể thuê thiết bị tiết kiệm năng lượng qua các công ty dịch vụ năng lượng (ESCO). Doanh nghiệp cũng có thể áp dụng mô hình thanh toán dựa trên khoản tiết kiệm tạo ra. Nên bắt đầu từ những dự án thí điểm nhỏ trước khi mở rộng, thay vì chờ đợi một gói vốn lớn ngay từ đầu.

Gắn chuyển đổi xanh với hiệu quả kinh tế đo lường được

- Làm thế nào để tránh tình trạng "xanh hóa hình thức" để chuyển đổi xanh thực sự tạo ra hiệu quả kinh tế, thưa ông?

TS. Lê Minh Nghĩa: "Xanh hóa hình thức" hay greenwashing là rủi ro đang gia tăng. Điều đáng chú ý là chính khảo sát của nhóm doanh nghiệp được đánh giá tốt nhất về ESG tại Việt Nam cũng chỉ ra vấn đề này. Theo kết quả khảo sát Top 100 Doanh nghiệp ESG Việt Nam Xanh, một đặc điểm nổi bật là nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào việc công bố báo cáo ESG để đáp ứng yêu cầu. Các doanh nghiệp này chưa thực sự lồng ghép ESG vào chiến lược kinh doanh. Chỉ khoảng một nửa doanh nghiệp áp dụng các chỉ số đo lường ESG theo chuẩn quốc tế. Điều này cho thấy, khoảng cách giữa "nói" và "làm" là có thật, kể cả ở nhóm doanh nghiệp dẫn đầu.

Doanh nghiệp đồng loạt đầu tư hạ tầng, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Doanh nghiệp đồng loạt đầu tư hạ tầng, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Để tránh tình trạng này, cần đồng thời ba nhóm giải pháp. Thứ nhất, về thể chế, cần sớm hoàn thiện bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia có giá trị pháp lý rõ ràng. Thực tế hiện nay, Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước xây dựng "Danh mục dự án xanh". Các cơ quan này cũng được giao xây dựng tài liệu hướng dẫn phân loại hoạt động kinh tế, dự án xanh phục vụ thống kê, báo cáo tín dụng xanh. Đây là bước đi đúng hướng. Bước đi này cần được đẩy nhanh và áp dụng thống nhất trên toàn hệ thống, kể cả ngoài lĩnh vực tín dụng.

Thứ hai, cần cơ chế kiểm toán, xác nhận độc lập đối với báo cáo phát thải và các tuyên bố xanh. Áp lực từ bên ngoài đang tạo động lực rất rõ cho việc này. Từ ngày 1/1/2026, theo cơ chế CBAM của EU, các nhà nhập khẩu vào EU phải mua và nộp chứng chỉ CBAM tương ứng với lượng phát thải carbon gắn trong hàng hóa nhập khẩu. Điều này buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải có dữ liệu phát thải minh bạch, được xác nhận chứ không thể chỉ tuyên bố suông.

Thứ ba, tôi cho là quan trọng nhất, phải gắn chuyển đổi xanh với hiệu quả kinh tế đo lường được. Kinh nghiệm ngành thép là một ví dụ cảnh báo rất rõ. Với hệ số phát thải cao hơn mức trung bình toàn cầu, chi phí carbon theo CBAM có thể dao động 50-100 Euro cho mỗi tấn CO2 phát thải. Đây là một chi phí rất cụ thể, có thể tính toán ngay được vào giá thành, chứ không còn là khái niệm trừu tượng. Khi doanh nghiệp thấy rõ mối liên hệ trực tiếp giữa mức phát thải và chi phí thực tế phải trả, động lực chuyển đổi thực chất sẽ tự nhiên mạnh hơn nhiều so với việc chuyển đổi chỉ để "gắn nhãn xanh".

Cuối cùng, các hiệp hội nghề nghiệp như VFCA có vai trò tăng cường minh bạch thông tin thị trường. Vai trò này còn thể hiện ở việc phổ biến các mô hình chuyển đổi xanh có hiệu quả kinh tế được kiểm chứng. Qua đó, hiệp hội góp phần tạo áp lực cạnh tranh lành mạnh, dần loại bỏ những trường hợp chỉ làm hình thức.

- Ngành Công Thương cần làm gì để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi xanh và nâng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế?

TS. Lê Minh Nghĩa: Tôi cho rằng, ngành Công Thương cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp. Tôi sẽ minh họa bằng chính những dữ liệu thực tiễn của ngành.

Thứ nhất, cần đẩy nhanh và cụ thể hóa các mục tiêu tiết kiệm năng lượng đã đề ra. Chương trình VNEEP3 do Bộ Công Thương chủ trì đặt mục tiêu tiết kiệm 8-10% tổng năng lượng tiêu thụ toàn quốc trong giai đoạn 2019 - 2030. Nhiều địa phương đã ban hành kế hoạch hành động thực hiện. Tuy nhiên, đánh giá tại hội nghị toàn quốc tháng 8/2026 vẫn cho thấy tiềm năng tiết kiệm năng lượng còn lớn. Việc tiếp cận công nghệ và nguồn vốn cho các dự án tiết kiệm năng lượng vẫn là rào cản. Ngành Công Thương cần chuyển từ việc đặt mục tiêu sang cơ chế tài chính cụ thể hỗ trợ thực hiện. Một mô hình được thảo luận gần đây là Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Quỹ đã có cơ sở pháp lý tại Luật số 77/2025/QH15 nhưng chưa được thành lập. Cần sớm có nghị định hướng dẫn để Quỹ đi vào vận hành với quy mô đủ lớn.

Thứ hai, hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp, đặc biệt SME, ứng phó với các rào cản kỹ thuật xanh tại thị trường xuất khẩu. Ngành thép chiếm đến 96% giá trị xuất khẩu trong nhóm hàng chịu tác động bởi CBAM. Trong khi đó, EU chiếm khoảng 30% sản lượng thép dẹt xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2023-2024. Ngành Công Thương cần là đầu mối hỗ trợ kỹ thuật kiểm kê khí nhà kính, hướng dẫn báo cáo phát thải theo chuẩn CBAM. Điều này giúp doanh nghiệp không bị động trước hạn báo cáo.

Thứ ba, chuẩn bị nguồn lực và thể chế cho thị trường carbon trong nước. Sàn giao dịch carbon dự kiến vận hành thí điểm đến hết năm 2028 và chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2029. Đây là công cụ quan trọng để nội hóa chi phí carbon vào giá thành. Công cụ này tạo động lực thị trường thực chất cho chuyển đổi xanh, thay vì chỉ dựa vào biện pháp hành chính.

Thứ tư, đồng hành cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhóm này chiếm khoảng 95% cộng đồng doanh nghiệp. Trong khi đó, theo khảo sát vẫn có tới 64% doanh nghiệp chưa chuẩn bị gì cho chuyển đổi xanh. Một mô hình thực tiễn là chương trình đưa doanh nghiệp SME tham quan trực tiếp nhà máy đã ứng dụng quản lý năng lượng và quản trị hiệu quả. Một hướng khác là phổ biến các mô hình tài chính linh hoạt như thuê thiết bị, thanh toán theo mức tiết kiệm. Đây là những hướng đi thiết thực. Ngành Công Thương nên phối hợp cùng hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp để nhân rộng các mô hình này.

Tôi tin rằng, khi các con số về chi phí và lợi ích của chuyển đổi xanh trở nên rõ ràng, cụ thể như trên, cộng đồng doanh nghiệp sẽ nhìn nhận đây không phải là gánh nặng chi phí mà là cơ hội nâng cấp vị thế cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

Chuyển đổi xanh đang bước vào giai đoạn đòi hỏi hành động thực chất. Khung chính sách đang dần được hoàn thiện. Áp lực từ thị trường xuất khẩu ngày càng rõ nét. Vấn đề đặt ra là khơi thông dòng vốn, nâng cao năng lực thực thi và đồng hành cùng doanh nghiệp. Khi đó, chuyển đổi xanh sẽ không còn là gánh nặng chi phí mà trở thành động lực nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Phương Hà

Có thể bạn quan tâm