TP. Hồ Chí Minh cần chuẩn bị gì để phát triển công nghiệp văn hóa số?

Muốn công nghiệp văn hóa phát triển trên môi trường số, TP. Hồ Chí Minh cần kết nối dữ liệu di sản, thiết chế văn hóa và doanh nghiệp, tạo nguồn tư liệu khai thác.

Theo ông Chu Tiến Đạt, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện (VTC), phát triển công nghiệp văn hóa trên môi trường số không chỉ là đưa các hoạt động văn hóa lên nền tảng trực tuyến, điều quan trọng là phải xây dựng được nguồn dữ liệu văn hóa chuẩn xác, có khả năng kết nối và khai thác. Đây vừa là nền tảng bảo vệ bản sắc, vừa là nguyên liệu để hình thành các sản phẩm sáng tạo có giá trị kinh tế.

Dữ liệu văn hóa – nền móng của sáng tạo số

Theo ông Chu Tiến Đạt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; Quyết định số 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đều nhấn mạnh tầm quan trọng, tỷ trọng của văn hoá số trong ngành công nghiệp văn hóa.

Ông Đạt dẫn chứng trung bình mỗi người hiện dành khoảng 6 giờ mỗi ngày trên môi trường số. Đây không chỉ là không gian tiếp nhận thông tin, giải trí mà còn trở thành nơi sản xuất, phân phối và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa. Phát triển lĩnh vực này có hai ý nghĩa: bảo vệ chủ quyền, bản sắc văn hóa dân tộc và tạo ra giá trị kinh tế.

Chương trình nghệ thuật kết hợp trình chiếu 3D mapping trên mặt tiền trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh đã tái hiện hành trình 50 năm xây dựng, phát triển của Thành phố mang tên Bác, thu hút đông đảo người dân và du khách.

Chương trình nghệ thuật kết hợp trình chiếu 3D mapping trên mặt tiền trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh đã tái hiện hành trình 50 năm xây dựng, phát triển của Thành phố mang tên Bác, thu hút đông đảo người dân và du khách.

Thực tế triển khai cho thấy, thiếu dữ liệu gốc có thể dẫn đến những sai lệch ngay trong quá trình sáng tạo. Chủ tịch VTC dẫn ví dụ kiểm tra tư liệu một bộ phim lịch sử do các nhà sáng tạo nội dung số sản xuất về trận chiến thời Trần, khi rà soát trang phục, ê-kíp phát hiện phần áo giáp được thiết kế theo mẫu của nước ngoài, không phải áo giáp thời Trần.

Theo ông, khi nhà sáng tạo không có tư liệu gốc để tham chiếu, nguy cơ sử dụng nhầm hình ảnh, chi tiết văn hóa của quốc gia khác là rất lớn. Điều này càng đáng lưu ý trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo được ứng dụng rộng rãi. Nếu dữ liệu về di tích, hiện vật, trang phục, âm thanh và các giá trị văn hóa Việt Nam không được chuẩn hóa, các hệ thống công nghệ có thể tái tạo những hình ảnh thiếu chính xác về văn hóa dân tộc.

Vì vậy, số hóa không chỉ nhằm lưu trữ tư liệu hay mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Khi được chuẩn hóa và tổ chức tốt, dữ liệu văn hóa còn trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành sáng tạo. Nhà làm phim, nhà phát triển trò chơi điện tử, hay người sáng tạo nội dung có thể khai thác tư liệu sẵn có để phát triển sản phẩm, thay vì phải bắt đầu số hóa từ đầu.

Từ góc độ này, ông Đạt cho rằng TP. Hồ Chí Minh có tiềm năng lớn, nhưng các thiết chế văn hóa và nguồn tư liệu hiện vẫn như những “ốc đảo”; có giá trị riêng nhưng chưa kết nối thành một hệ thống dữ liệu chung của Thành phố, cũng chưa liên thông với kho dữ liệu văn hóa quốc gia và quốc tế.

Kết nối dữ liệu để mở đường cho sáng tạo

Để khắc phục tình trạng phân tán, ông Chu Tiến Đạt đề xuất triển khai theo hai lớp. Trước hết, các thiết chế văn hóa, nhất là thiết chế công lập đang quản lý nguồn tư liệu và hiện vật có giá trị, cần đẩy mạnh số hóa. Quá trình này phải chú trọng chất lượng dữ liệu và trải nghiệm của người sử dụng, qua đó vừa phục vụ bảo tồn, lưu giữ lâu dài, vừa phát triển bảo tàng số, thư viện số để người dân có thể tiếp cận dù không có điều kiện đến trực tiếp.

Du khách có thể trải nghiệm các chuyên đề trưng bày dưới dạng tour ảo 360 độ, khi truy cập vào trang chính thức của Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (TP. Hồ Chí Minh).

Du khách có thể trải nghiệm các chuyên đề trưng bày dưới dạng tour ảo 360 độ, khi truy cập vào trang chính thức của Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (TP. Hồ Chí Minh).

Ông đề xuất xây dựng kho dữ liệu văn hóa số TP. Hồ Chí Minh, kết nối dữ liệu từ các thiết chế văn hóa và doanh nghiệp, đồng thời liên thông với kho dữ liệu văn hóa số quốc gia và quốc tế. Khi có nguồn tư liệu đủ tin cậy, doanh nghiệp và người sáng tạo nội dung mới có điều kiện phát triển sản phẩm. Ông Đạt ví dụ về game “Ngộ Không” được Trung Quốc phát hành và bán được hàng triệu bản hồi năm ngoái, dựa trên các di sản số của tỉnh Sơn Đông, qua đó giúp doanh thu du lịch của địa phương này tăng gấp đôi. Ông cho rằng đây là bài học để các địa phương của Việt Nam tham khảo.

Ở góc độ đào tạo và phát triển văn hóa đô thị, PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh, cho rằng phát triển văn hóa không đơn thuần là xây thêm công trình hay tổ chức thêm hoạt động, mà phải xác lập văn hóa trong mô hình phát triển đô thị. TP. Hồ Chí Minh cần gìn giữ bản sắc, tạo điều kiện kết nối sáng tạo và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực.

Nhắn gửi đến thế hệ trẻ, PGS.TS Lâm Nhân lưu ý công nghệ và trí tuệ nhân tạo phát triển rất nhanh, nhưng sản phẩm công nghiệp văn hóa muốn có bản sắc phải được xây dựng trên nền tảng văn hóa truyền thống của dân tộc, không thể chỉ sao chép sản phẩm của nước khác.

Đây cũng là vấn đề cốt lõi trong phát triển công nghiệp văn hóa số: công nghệ có thể cung cấp công cụ, nhưng dữ liệu văn hóa và bản sắc mới tạo nên giá trị riêng của sản phẩm. Khi các thiết chế văn hóa được kết nối, dữ liệu được chuẩn hóa và doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu, di sản mới thực sự trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Với TP. Hồ Chí Minh, xây dựng kho dữ liệu văn hóa số vì thế không chỉ là nhiệm vụ chuyển đổi số, mà còn là bước chuẩn bị nền tảng cho một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế và lan tỏa bản sắc Việt Nam.

Yêu cầu đặt ra trong phát triển văn hóa TP. Hồ Chí Minh thời gian tới, theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là đổi mới tư duy đầu tư và huy động nguồn lực cho văn hóa. Theo đó, thành phố cần có sự chuyển dịch căn bản từ tư duy “chi cho văn hóa” sang “đầu tư cho văn hóa”. Đây không chỉ là sự thay đổi về cách tiếp cận nguồn lực mà còn thể hiện nhận thức mới về vị trí, vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng hàng đầu của phát triển bền vững.

Quang Anh

Có thể bạn quan tâm