TP. Đồng Nai: 'Chạy đua' công nghệ, đẩy nhanh tiến độ dự án lưới điện

Xây dựng lộ trình chuyển đổi số và tự động hóa lưới điện, ngành điện TP. Đồng Nai đang tăng tốc cả về công nghệ lẫn tiến độ công trình lưới điện trong năm 2026.

Lộ trình hai giai đoạn, hướng tới lưới điện thông minh vào năm 2030

Ngành điện TP. Đồng Nai đã xây dựng lộ trình chuyển đổi số và tự động hóa lưới điện theo hai giai đoạn cụ thể. Giai đoạn 2026-2027 tập trung hoàn thiện hạ tầng và nền tảng số: số hóa 100% quy trình quản lý tài chính - kế toán, tuyển dụng, đào tạo và hồ sơ nhân viên; hoàn thành hệ thống mạng truyền dẫn đường trục liên tỉnh và kiện toàn mạng truyền dẫn nội tỉnh của Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC); mở rộng kết nối các thiết bị đóng cắt (Recloser/LBS/RMU) điều khiển từ xa, phấn đấu đạt 30% xuất tuyến ứng dụng chức năng tự động hóa FLISR - tự động phát hiện, khoanh vùng sự cố và khôi phục cấp điện.

Trao đổi với phóng viên viên báo Công Thương, ông Nguyễn Trần Trí Linh, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Đồng Nai cho biết, bước sang giai đoạn 2028-2030, mục tiêu đặt ra là hiện đại hóa toàn diện 100% lưới điện trung áp được điều khiển từ xa và vận hành tự động (DAS); 100% trạm biến áp 110kV xây dựng mới đạt tiêu chuẩn trạm tự động hóa, đồng thời thí điểm mô hình trạm 110kV kỹ thuật số; số hóa toàn bộ lưới điện cao áp, trung áp và hạ áp trên bản đồ hệ thống thông tin địa lý (GIS) kết hợp phần mềm quản lý kỹ thuật (PMIS); xây dựng Trung tâm điều khiển dự phòng hoạt động song song với trung tâm hiện hữu để bảo đảm vận hành an toàn, tin cậy 24/7; hoàn thành chuyển đổi công tơ đo xa đạt 100% tự động thu thập dữ liệu đo đếm.

Ngành điện TP. Đồng Nai đã đưa 100% dịch vụ điện lên môi trường điện tử, giúp khách hàng thực hiện thủ tục mà không cần đến trực tiếp phòng giao dịch.

Ngành điện TP. Đồng Nai đã đưa 100% dịch vụ điện lên môi trường điện tử, giúp khách hàng thực hiện thủ tục mà không cần đến trực tiếp phòng giao dịch.

Một số mô hình ứng dụng công nghệ tại địa bàn đang phát huy hiệu quả và có thể nhân rộng trong toàn EVNSPC. Đáng chú ý là việc chuyển đổi phương thức bảo trì tài sản từ sửa chữa định kỳ sang bảo trì theo điều kiện vận hành trên toàn bộ lưới cao, trung thế, đồng thời nghiên cứu áp dụng bảo trì dựa trên độ tin cậy (RCM), giúp phát hiện sớm nguy cơ sự cố và kéo dài tuổi thọ thiết bị. Chức năng tự động hóa mạch vòng lưới điện (FLISR) hiện đã được áp dụng cho hơn 100 phát tuyến trung thế, vận hành hoàn toàn tự động từ phần mềm SCADA-DMS tại Trung tâm điều khiển, giúp phát hiện, phân đoạn sự cố và tái lập điện nhanh chóng cho khách hàng.

Bên cạnh đó, mã QR cũng được ứng dụng trong quản lý dự án đầu tư xây dựng và các ứng dụng hiện trường, giúp kỹ thuật viên xử lý sự cố nhanh và chính xác hơn. Hệ thống mô phỏng vận hành (Operator Training Simulator) cũng được đưa vào sử dụng, cho phép mô phỏng hệ thống SCADA lưới điện hiện hữu qua một máy chủ riêng, phục vụ thử nghiệm kịch bản FLISR, giả lập tình huống bất thường và đào tạo điều độ viên mới mà không ảnh hưởng đến hệ thống đang vận hành thực tế.

Cuộc đua nước rút của các công trình lưới điện

Theo Phó Giám đốc Công ty Điện lực Đồng Nai, công tác đầu tư xây dựng, tính đến thời điểm hiện tại, các dự án lưới điện năm 2026 tại TP. Đồng Nai đang được triển khai đồng bộ. Đối với lưới điện 110kV, đã hoàn thành và đưa vào vận hành 9 trên tổng số 10 công trình theo kế hoạch; công trình còn lại đã khởi công từ ngày 30/6/2026 và đang được đẩy nhanh tiến độ thi công để sớm đưa vào vận hành.

9 trong tổng số 10 công trình lưới điện 110kV theo kế hoạch năm 2026 đã hoàn thành và đưa vào vận hành.

9 trong tổng số 10 công trình lưới điện 110kV theo kế hoạch năm 2026 đã hoàn thành và đưa vào vận hành.

Đối với các công trình lưới điện trung, hạ thế, toàn bộ 62 dự án đã được khởi công, trong đó đã đóng điện đưa vào vận hành 4 công trình; nhiều công trình còn lại đã đạt trên 50% khối lượng thi công, một số hạng mục được đóng điện từng phần để kịp thời đáp ứng nhu cầu cấp điện của người dân và doanh nghiệp.

Việc hoàn thành khối lượng công trình nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực hạ tầng lưới điện của thành phố. Sau khi đưa vào vận hành, các công trình sẽ góp phần nâng cao năng lực truyền tải và phân phối điện, tăng khả năng cấp điện an toàn, ổn định, đồng thời giảm tải cho các đường dây, trạm biến áp đang vận hành ở mức tải cao, từng bước khắc phục tình trạng đầy tải cục bộ tại những khu vực có tốc độ phát triển phụ tải nhanh.

Trong bối cảnh TP. Đồng Nai đang trở thành cực tăng trưởng mới với nhiều khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm logistics và các dự án hạ tầng quy mô lớn, việc chủ động đầu tư lưới điện được xem là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương, tạo niềm tin cho nhà đầu tư khi triển khai dự án trên địa bàn.

62 công trình lưới điện trung, hạ thế đã được khởi công trong năm 2026, nhiều công trình đã đạt trên 50% khối lượng thi công.

62 công trình lưới điện trung, hạ thế đã được khởi công trong năm 2026, nhiều công trình đã đạt trên 50% khối lượng thi công.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Trần Trí Linh, quá trình triển khai cũng còn một số khó khăn, chủ yếu là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại một số vị trí còn chậm; việc bố trí lịch cắt điện phục vụ thi công đối với các công trình cải tạo, nâng cấp cũng cần được tính toán chặt chẽ để vừa bảo đảm tiến độ dự án, vừa duy trì cung cấp điện an toàn, liên tục cho khách hàng.

Để bảo đảm hoàn thành mục tiêu đầu tư năm 2026, nhiều giải pháp đang được Công ty Điện lực Đồng Nai triển khai đồng bộ: tăng cường kiểm tra, rà soát tiến độ từng dự án; giao trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị và nhà thầu; chủ động phối hợp với chính quyền địa phương để tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng và thủ tục đầu tư; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý đầu tư xây dựng, theo dõi tiến độ theo tuần để kịp thời xử lý phát sinh.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến hết tháng 7/2026, toàn bộ 12/12 dịch vụ điện cấp độ 4 đã được đưa lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; trong đó 4/12 dịch vụ đã chính thức chuyển sang cổng dịch vụ công mới phối hợp với Bộ Công an, 8 dịch vụ còn lại đang trong giai đoạn kiểm thử, tiến tới kết nối dữ liệu với VNeID.

Kiều Liên