Hiện nay, cả nước đang bước vào mùa nắng nóng, đặc biệt tại khu vực phía Nam. Nhu cầu tiêu thụ điện được dự báo tăng mạnh trong các tháng cao điểm mùa khô. Điều này tạo áp lực lớn đối với việc cung cấp điện, không chỉ tại miền Nam mà còn đối với toàn bộ hệ thống điện quốc gia.
Trong bối cảnh đó, ngày 30/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg, đặt ra mục tiêu quan trọng: tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ trong năm 2026 và thúc đẩy mạnh mẽ phát triển điện mặt trời mái nhà giai đoạn 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Văn Minh, Tổng biên tập Báo Công Thương chủ trì tọa đàm.
Đây là chủ trương xuyên suốt đã được thể chế hóa qua nhiều văn bản như Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và chương trình hành động của ngành Công Thương.
Năm 2026 cũng là năm khởi đầu cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, với yêu cầu tăng trưởng hai con số, kéo theo nhu cầu điện lớn. Vì vậy, việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và phát triển nguồn điện tại chỗ đang trở thành giải pháp cấp thiết.
Là cơ quan truyền thông của Bộ Công Thương, luôn đi đầu trong tuyên truyền về tiết kiệm điện, Báo Công Thương phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức tọa đàm với chủ đề: "Tiết kiệm điện và điện mặt trời áp mái: Giải pháp giảm áp lực cung ứng điện giai đoạn 2026 - 2030" nhằm làm rõ cách thức, giải pháp tiết kiệm điện, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng doanh nghiệp, người dân sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Ông Đỗ Đình Dũng - Trưởng phòng Thư ký Tòa soạn Báo Công Thương điều phối các phiên thảo luận.
Phần thảo luận tại tọa đàm do ông Đỗ Đình Dũng, Trưởng phòng Thư ký Tòa soạn Báo Công Thương điều phối.
Tham dự tọa đàm có các diễn giả: ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương); ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC); ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc NSMO; ông Trần Thanh Toản, Phó Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh; ông Bùi Trung Kiên, Phó Tổng Giám đốc EVNHCMC; chuyên gia đến từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia; ông Nguyễn Thượng Quân, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Tích hợp Sao Nam.
- Tôi xin chuyển câu hỏi tới ông Mai Văn Khiêm, chuyên gia của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn. Theo dự báo, năm nay nắng nóng xuất hiện sớm hơn thường lệ, xin ông cho biết xu hướng thời tiết trong các tháng tới sẽ ra sao, và liệu hiện tượng nắng nóng cực đoan kéo dài này có diễn biến phức tạp hay không?
PGS.TS Mai Văn Khiêm - Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia: Trên khía cạnh an ninh năng lượng quốc gia, cơ quan khí tượng thủy văn chúng tôi luôn mong muốn bảo đảm đầy đủ thông tin quan trắc, giám sát và dự báo về các điều kiện thiên tai, đặc biệt là nắng nóng, là yếu tố có liên quan trực tiếp đến nhu cầu phát triển năng lượng.

PGS.TS Mai Văn Khiêm - Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia.
Tôi xin chia sẻ một số thông tin cụ thể như sau. Thứ nhất, về xu thế nắng nóng cực đoan trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Qua theo dõi trong nhiều năm, có thể khẳng định rằng xu hướng nhiệt độ gia tăng, nắng nóng ngày một gay gắt không còn là câu chuyện của dự báo nữa, mà đã trở thành thực tế đang hiện hữu với xác suất rất cao.
Nếu nhìn vào chuỗi số liệu khí tượng toàn cầu, 11 năm vừa qua, tính đến năm 2025, là 11 năm liên tiếp ghi nhận nền nhiệt cao nhất trong lịch sử quan trắc.
Dự báo năm 2026 sẽ tiếp tục nối dài chuỗi này, trở thành năm thứ 12 liên tiếp nằm trong nhóm năm nóng kỷ lục. Điều đó cho thấy nguy cơ xuất hiện các đợt nắng nóng cực đoan trong mùa hè sẽ tiếp tục gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Thứ hai, về diễn biến thời tiết tại Việt Nam trong năm 2026. Năm nay, nền nhiệt nhìn chung sẽ cao hơn mức trung bình nhiều năm. So với năm 2025, nhiệt độ trong các tháng mùa hè ở khu vực Đông Nam Bộ được dự báo tăng hơn. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tác động của biến đổi khí hậu, đồng thời chúng ta đang ở trong chu kỳ El Niño - pha nóng, thường kéo theo tình trạng ít mưa, nắng nóng và khô hạn.
Thứ ba, về dự báo cụ thể trong các tháng mùa khô. Vào cuối tháng 4/2026, khu vực Tây Bắc Bộ bắt đầu xuất hiện nắng nóng với nhiệt độ phổ biến từ 35 đến 38 độ C. Tại Nam Bộ, từ ngày 23 đến 24/4 và kéo dài đến cuối tháng 4, có thể xuất hiện các đợt nắng nóng từ 35 đến 37 độ C, kéo theo nhu cầu sử dụng điện gia tăng.
Sang tháng 5 và tháng 6/2026, khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ dự kiến mỗi tháng sẽ có khoảng 2 đến 3 đợt nắng nóng. Riêng Nam Bộ, mức độ nắng nóng có thể giảm bớt so với tháng 4 do gió mùa Tây Nam bắt đầu hoạt động, mang theo độ ẩm và mưa.

Toàn cảnh tọa đàm "Tiết kiệm điện và điện mặt trời áp mái: Giải pháp giảm áp lực cung ứng điện giai đoạn 2026 - 2030".
Về dự báo dài hạn, xác suất El Niño kéo dài đến cuối năm 2026 và sang đầu năm 2027 là rất cao. Điều này đồng nghĩa với khả năng trên phạm vi cả nước sẽ tiếp tục ít mưa trong suốt năm 2026 và giai đoạn đầu năm 2027.
Rủi ro đặt ra là lượng mưa thiếu hụt sẽ tác động nghiêm trọng đến nguồn nước tại các hồ thủy điện trong mùa khô năm 2027. Nói cách khác, chúng ta đang phải đối mặt với một rủi ro kép: nắng nóng gia tăng trong khi nguồn nước phục vụ sản xuất điện lại có nguy cơ thiếu hụt.
- Thưa ông Trịnh Quốc Vũ, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực điện lực của Bộ Công Thương, ông có thể dự báo nhu cầu điện trong năm 2026 như thế nào? Đâu là những khó khăn, thách thức đối với công tác cung ứng điện trong bối cảnh hiện nay?
Ông Trịnh Quốc Vũ - Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương): Tôi xin chia sẻ một số thông tin về nhu cầu phụ tải điện dự báo trong năm 2026, đồng thời báo cáo với hội nghị một số nội dung liên quan.
Cuối năm 2025, Bộ Công Thương đã chủ động chỉ đạo Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện, cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam, phối hợp xây dựng kế hoạch vận hành hệ thống điện quốc gia. Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3477/QĐ-BCT phê duyệt phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia. Quyết định này đặt ra mục tiêu bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống người dân theo kịch bản tăng trưởng GDP hai con số.

Ông Trịnh Quốc Vũ - Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương).
Theo đó, phương án cung ứng điện năm 2026 được xây dựng theo 3 kịch bản. Thứ nhất là kịch bản cơ sở, với mức tăng nhu cầu phụ tải của toàn hệ thống điện dự kiến ở mức 8,5% so với năm 2025.
Thứ hai là kịch bản điều hành. Theo phương án này, phụ tải điện của hệ thống được dự báo có thể tăng tới 11,7% so với năm trước.
Thứ ba là kịch bản dự phòng. Ở kịch bản này, trong những tháng cao điểm mùa khô, nhu cầu điện có khả năng tăng lên tới 14,1% - đây là một mức rất cao.
Theo số liệu thống kê của chúng tôi, trong 4 tháng đầu năm 2026, phụ tải điện tăng khoảng 6,6%. Và cũng theo dự báo của các tổng công ty điện lực, mức tăng của toàn hệ thống trong 6 tháng đầu năm có thể đạt 8,5%, tức bám khá sát kịch bản cơ sở.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải chuẩn bị các phương án dự phòng để ứng phó với những biến động bất thường của nhu cầu phụ tải, nhất là trong bối cảnh thời tiết có thể diễn biến khó lường, như ông Khiêm vừa chia sẻ với hội nghị.
Bên cạnh công tác điều hành nguồn và lưới điện nhằm bảo đảm khả năng cung ứng, đồng thời chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh, rất cần sự chung tay của người dân, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng điện, cũng như đẩy mạnh tiết kiệm điện.
Sự tham gia của các khách hàng sử dụng điện, đặc biệt là các hộ dân và nhóm khách hàng tiêu thụ lớn, giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm an ninh cung cấp điện trong mọi tình huống, nhất là vào các tháng cao điểm mùa khô và những đợt nắng nóng của năm 2026.
Tại thời điểm này, chúng tôi kỳ vọng với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, mà ngay sau đây chúng ta cũng sẽ có dịp trao đổi thêm về những nội dung trong Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ - công tác bảo đảm điện sẽ tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả hơn.
- Ở góc độ cơ quan điều độ hệ thống điện quốc gia, theo ông Nguyễn Quốc Trung, những áp lực đặt ra sẽ là gì? Ông có thể cho biết thêm đâu là những khung giờ căng thẳng nhất trong ngày đối với công tác điều hành hệ thống điện?
Ông Nguyễn Quốc Trung - Phó Tổng giám đốc NSMO: Như PGS.TS Mai Văn Khiêm đã trao đổi về tình hình nắng nóng trong những tháng đầu năm 2026, đặc biệt khi đây là năm thứ 12 liên tiếp ghi nhận xu hướng nắng nóng kéo dài. Với vai trò là đơn vị điều hành, chúng tôi nhận thấy có hai khó khăn cơ bản, bao gồm áp lực từ nhu cầu phụ tải và thách thức đến từ nguồn cung.
Về phía nhu cầu, trong năm 2026, hệ thống điện quốc gia đã ghi nhận mốc 1 tỷ kWh điện/ngày, vào ngày 31/3/2026. Đây là dấu hiệu cho thấy phụ tải đang tăng rất mạnh.
Ông Nguyễn Quốc Trung - Phó Tổng giám đốc NSMO.
Nếu nhìn lại các năm trước sẽ thấy rõ xu hướng này. Năm 2024, hệ thống chưa xuất hiện mốc 1 tỷ kWh/ngày. Sang năm 2025, phải đến đầu tháng 5, thậm chí giữa tháng 5, toàn hệ thống điện quốc gia mới chạm ngưỡng này. Nhưng riêng năm 2026, ngay từ ngày 31/3, chúng ta đã đạt mốc 1 tỷ kWh/ngày.
Chúng tôi ghi nhận rằng trong những ngày đầu tháng 4, sản lượng điện tiêu thụ của toàn hệ thống điện quốc gia liên tục duy trì ở mức bình quân trên 1 tỷ kWh/ngày. Đáng chú ý, ngày 8/4 đã xác lập kỷ lục mới với 1 tỷ 92 triệu kWh trong một ngày, trong khi công suất cực đại lên tới 52.225 MW. Trên cơ sở đó, chúng tôi dự báo mốc 1,1 tỷ kWh/ngày có thể sẽ được thiết lập ngay sau kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5.
Đây là sức ép rất lớn đối với công tác điều hành. Nếu nắng nóng chỉ kéo dài 1 - 2 ngày thì mức tăng của phụ tải chưa quá lớn. Nhưng khi nắng nóng duy trì liên tiếp 4 - 5 ngày, chỉ cần nhiệt độ môi trường tăng thêm, trong điều kiện hệ thống thiết bị sử dụng điện không thay đổi, nhu cầu điện mỗi ngày có thể tăng khoảng 800 - 1.000 MW. Nếu nền nhiệt cao đó kéo dài thêm 3 - 4 ngày, mức tăng phụ tải cộng dồn thậm chí có thể lên tới 3.000 - 4.000 MW.
Có thể hình dung rất rõ áp lực này, chỉ cần nhiệt độ tăng thêm 1-2 độ C, hệ thống đã phải gánh thêm một lượng công suất tương đương gần như toàn bộ công suất của một tổ hợp thủy điện Hòa Bình. Đó là áp lực rất lớn từ phía nhu cầu.
Về khó khăn từ phía nguồn cung, năm 2026 chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Trước hết là thủy điện. Như PGS.TS Mai Văn Khiêm đã đề cập, tác động của El Niño khiến lượng nước đổ về các hồ thủy điện suy giảm. Theo ghi nhận của chúng tôi trong những ngày gần đây, sản lượng từ thủy điện thường chỉ ở mức khoảng 70 triệu kWh/ngày, là con số khá thấp nếu đặt cạnh nhu cầu sử dụng điện của toàn bộ nền kinh tế.
Đối với nguồn khí, đây là một trong những nguồn điện trọng yếu của hệ thống điện quốc gia. Tuy nhiên, năm nay tình hình địa chính trị thế giới có nhiều biến động mạnh. Gần đây nhất là xung đột giữa Mỹ và Iran, làm gia tăng nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng LNG từ các quốc gia xuất khẩu lớn như Qatar, qua eo biển Hormuz.
Hệ quả là khoảng 25% sản lượng LNG cung cấp cho các nước châu Á bị ảnh hưởng. Trước bối cảnh đó, chúng tôi phải phối hợp rất chặt chẽ với các đơn vị cung ứng như PV Gas, PV Power để xoay xở, nỗ lực bảo đảm nguồn LNG cho phát điện.
Với khí trong nước, trước đây chúng ta vẫn còn nguồn cung nhất định, nhưng đến nay sản lượng cũng đã suy giảm đáng kể.
Còn với nhiệt điện than, lĩnh vực này cũng chịu tác động từ khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Một số quốc gia xuất khẩu than đã bắt đầu cân nhắc việc hạn chế, thậm chí không tiếp tục xuất khẩu. EVN cùng các Tổng công ty Phát điện 1, 2, 3 đã phải rất nỗ lực phối hợp để thu xếp nguồn than cho các nhà máy.
Về các khung giờ chịu áp lực lớn nhất, chúng tôi nhận thấy hệ thống điện hiện nay gặp khó khăn nhất ở hai khoảng thời gian. Khung giờ thứ nhất là từ 12h30 đến 14h30. Khung giờ thứ hai là từ 21h đến 23h.
Tuy nhiên, trong điều kiện nắng nóng kéo dài, khung giờ thứ hai mới là khoảng thời gian cần đặc biệt lưu ý. Lý do là ở khung giờ thứ nhất, dù nhu cầu phụ tải có thể vượt 52.000 MW, hệ thống vẫn còn sự hỗ trợ của nguồn điện mặt trời với quy mô gần 17.000 MW. Nhưng đến khoảng 21h - 23h, nguồn điện mặt trời không còn nữa, trong khi nhu cầu sử dụng điện vẫn ở mức rất cao.
Hiện nay, Bộ Công Thương cùng Cục Điện lực cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm xử lý áp lực của khung giờ buổi tối, trong đó có việc thúc đẩy lắp đặt hệ thống lưu trữ năng lượng BESS quy mô lớn, đồng thời bổ sung yêu cầu bắt buộc về hệ thống lưu trữ đối với các dự án điện mặt trời triển khai trong thời gian tới.
Từ thực tế của hai khung giờ này có thể thấy Chỉ thị 10, trước đây là Chỉ thị 20, là hết sức cần thiết. Một mặt, cần phát triển điện mặt trời để hỗ trợ khung giờ ban ngày, nhất là buổi sáng và đầu giờ chiều. Mặt khác, phải đẩy mạnh tiết kiệm điện để giảm áp lực cho cả hai khoảng thời gian cao điểm, đặc biệt là khung giờ buổi tối...
- Thưa ông Trịnh Quốc Vũ, làm thế nào để biến mục tiêu phát triển mạnh điện mặt trời, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà, thành hiện thực trong những năm tới? Đâu là những cơ chế then chốt cần sớm được ban hành để tháo gỡ rào cản và tạo động lực cho người dân, doanh nghiệp tham gia?
Ông Trịnh Quốc Vũ - Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương): Vừa qua, trong Quy hoạch điện VIII, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển các nguồn điện với một kịch bản phát triển năng lượng tái tạo rất tham vọng. Theo đó, từ nay đến năm 2030, tổng công suất điện mặt trời được định hướng phát triển trong khoảng từ 46.000 đến 73.000 MW.
Nếu nhìn vào thực tế hiện nay, tổng công suất điện mặt trời của Việt Nam, bao gồm điện mặt trời mái nhà và điện mặt trời quy mô lớn, đã đạt hơn 19.000 MW. Với quy mô đó, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về phát triển điện mặt trời. Tuy nhiên, theo định hướng mới của Quy hoạch điện VIII, quy mô phát triển lĩnh vực này trong thời gian tới sẽ còn tăng rất nhanh và rất mạnh.
Trong tổng công suất khoảng 46.000 MW điện mặt trời, mục tiêu đặt ra là phát triển khoảng 26.000 MW điện mặt trời mái nhà và hơn 20.000 MW điện mặt trời tập trung.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, trước hết, trong Quy hoạch điện VIII, Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 50% mái nhà của các cơ quan công sở và hộ gia đình được lắp đặt, che phủ bằng điện mặt trời.
Đây là một mục tiêu rất lớn. Để đạt được mục tiêu đó, hiện nay Bộ Công Thương đang được Chính phủ giao xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành một quyết định về cơ chế khuyến khích, thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà trong các hộ gia đình. Dự thảo quyết định này đã được chúng tôi xây dựng, gửi xin ý kiến các bộ, ngành và hiện đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Chúng tôi kỳ vọng rằng, khi các cơ chế hỗ trợ phát triển điện mặt trời mái nhà cho hộ gia đình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sẽ là cú hích quan trọng để tạo thêm động lực, đồng thời tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển điện mặt trời mái nhà trong giai đoạn tới.
Tôi cũng xin chia sẻ kỹ hơn một chút. Khi đã có quyết tâm, có mục tiêu rõ ràng và đi kèm với đó là một cơ chế phù hợp, chúng ta hoàn toàn có thể đạt được các chỉ tiêu đề ra. Thực tế, trong những năm trước đây, Việt Nam từng ban hành những cơ chế rất đột phá để phát triển điện mặt trời và điện gió, tiêu biểu là cơ chế giá mua điện ưu đãi Feed-in Tariff (FiT). Nhờ những chính sách đó, chúng ta đã phát triển được hơn 19.000 MW điện mặt trời như tôi vừa đề cập.
Vào thời điểm năm 2017, khi cơ chế FiT đầu tiên được ban hành, giá bán lẻ điện bình quân của Việt Nam mới ở mức 1.732 đồng/kWh. Thế nhưng, khi đó chúng ta đã sẵn sàng mua điện mặt trời với mức giá 9,35 US cent/kWh, tương đương hơn 2.000 đồng/kWh. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị khi ấy rất lớn.
Còn đến thời điểm hiện nay, nhờ sự phát triển của công nghệ, giá điện mặt trời, bao gồm điện mặt trời mái nhà hay điện mặt trời tập trung, đều đã giảm xuống đáng kể. Trong khi đó, giá bán lẻ điện hiện nay đã ở mức khoảng 2.204 đồng/kWh.
Như vậy, nếu chúng ta có được cơ chế phù hợp, đồng thời tháo gỡ các rào cản và vướng mắc về thủ tục hành chính, thì hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng mục tiêu phát triển công suất và sản lượng điện mặt trời mái nhà theo Quy hoạch điện VIII là khả thi.
Bên cạnh đó, theo thời gian, giá bán lẻ điện cũng có thể chịu tác động từ việc giá nhiên liệu đầu vào tăng lên, nên vẫn sẽ có những biến động nhất định. Trong khi đó, điện mặt trời mái nhà lại có mức đầu tư tương đối ổn định hơn và hiệu quả có thể nhìn thấy rõ. Vì vậy, chúng tôi rất mong các khách hàng nhận diện đầy đủ những ưu thế của điện mặt trời mái nhà để tiếp tục đầu tư trong thời gian tới.
- Xin được hỏi ông Nguyễn Quốc Trung về việc hệ thống điện mặt trời mái nhà hiện nay đã đóng góp như thế nào vào hệ thống điện và đang được huy động ra sao. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về vấn đề này để khán giả và người dân cùng rõ?
Ông Nguyễn Quốc Trung - Phó Tổng Giám đốc NSMO: Hiện nay, tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện mặt trời vào khoảng 19.000 - 20.000 MW. Nếu tính toàn bộ các nguồn năng lượng tái tạo, gồm điện mặt trời mái nhà, điện mặt trời trang trại, điện gió và một số nguồn khác, tổng công suất lắp đặt của toàn hệ thống có thể lên tới khoảng 24.000 MW.
Riêng với điện mặt trời mái nhà, theo số liệu thống kê mới nhất của chúng tôi, công suất lắp đặt hiện đã đạt khoảng 8.400 MW trên toàn hệ thống điện quốc gia, tương đương khoảng 9% tổng công suất lắp đặt của hệ thống.
Trong một số ngày gần đây, theo theo dõi của chúng tôi, điện mặt trời mái nhà đã cung cấp cho hệ thống điện quốc gia hơn 50 triệu kWh/ngày, chiếm khoảng 5 - 7% sản lượng điện của ngày đó. Theo chúng tôi, con số này sẽ không dừng lại ở đây mà còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Chúng tôi cũng rất kỳ vọng rằng ngay sau cuộc hội thảo này, quy mô điện mặt trời mái nhà sẽ tiếp tục được mở rộng mạnh hơn nữa.
Sở dĩ có thể kỳ vọng như vậy là vì điện mặt trời mái nhà có nhiều ưu điểm rất rõ. Trước hết, đây là nguồn năng lượng xanh, có đóng góp tích cực cho môi trường.
Thứ hai, điện mặt trời mái nhà có thể được triển khai rất nhanh. Nếu xây dựng một nhà máy thủy điện hoặc nhiệt điện khí, thời gian có thể mất từ 3 - 5 năm, thậm chí lâu hơn. Trong khi đó, với điện mặt trời mái nhà, nếu hộ gia đình lắp đặt thì chỉ trong khoảng một tuần là đã có thể đưa vào sử dụng.
Một điểm quan trọng khác là điện mặt trời mái nhà không phụ thuộc lớn vào biến động của thị trường thế giới. Chúng ta có thể chủ động hơn với nguồn điện này. Trong khi đó, than, dầu, khí và nhiều loại nhiên liệu khác đều chịu tác động rất mạnh từ thị trường quốc tế. Mà như chúng ta đang thấy, thị trường thế giới hiện biến động rất sâu; chỉ một thay đổi nhỏ cũng có thể tác động đến chi phí sản xuất điện, từ đó ảnh hưởng tới giá điện. Với điện mặt trời mái nhà, mức độ phụ thuộc đó thấp hơn nhiều.




