Tọa đàm trực tuyến “Để ngành Thép, Xi măng phát triển ổn định và bền vững”

Hôm nay, 24/7, từ 8 giờ 30 phút, Báo Công Thương điện tử tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Để ngành Thép và Xi măng phát triển ổn định, bền vững” nhằm trao đổi về những vấn đề dư luận đang đặc biệt quan tâm tới ngành Thép và Xi măng.

CôngThương - Tham dự tọa đàm có đại diện Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương), Hiệp hội Thép, Hiệp hội Xi măng, Hiệp hội Năng lượng, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép, xi măng, các cơ quan thông tấn, báo chí...

Khách mời tọa đàm chính:

Ông Bùi Quang Chuyện - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương)

Ông Nguyễn Tiến Nghi- Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam

Ông Nguyễn Văn Thiện - Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam

Ông Trần Viết Ngãi - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam

Tọa đàm sẽ tập trung vào các vấn đề chính:

Đánh giá tổng quan về ngành Thép, Xi măng của Việt Nam.

Năng lực cạnh tranh và thực trạng tiêu thụ sản phẩm thép, xi măng sản xuất trong nước.

Sử dụng năng lượng điện của ngành Thép và Xi măng.

Những nội dung trao đổi trong tọa đàm đã và đang được các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các địa phương, độc giả của Công Thương điện tử đặc biệt quan tâm. Như vấn đề quy hoạch của ngành Thép, Xi măng đã được đề cập khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng mấy năm trở lại đây, đó là quy hoạch bị phá vỡ, cung vượt cầu, công nghệ lạc hậu, ảnh hưởng tới môi trường, tiêu tốn điện năng... Hoặc gần đây là dự thảo lần 3 quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện của Bộ Công Thương đang lấy ý kiến đóng góp, trong đó, dự kiến giá bán lẻ điện áp dụng đối với ngành Thép, Xi măng cao hơn so với các ngành sản xuất khác đã tạo ra khá nhiều luồng ý kiến khác nhau... Ngoài ra còn nhiều vấn đề khác như: Quy hoạch hệ thống và phân phối sản phẩm thép; Cạnh tranh trên thị trường thép, xi măng; Giá thép, xi măng...

Nội dung tọa đàm được liên tục cập nhật:

Hỏi:Thưa ông Bùi Quang Chuyện, để giúp các DN cũng như độc giả hình dung một cách tổng thể về ngành thép, là cơ quan QLNN trực tiếp, ông có thể cho biết thực trạng về ngành thép VNhiện nay như thế nào ?

Trả lời: Ông Bùi Quang Chuyện - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng - Bộ Công Thương:

Sau 5 năm  thực hiện Quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007, về thực trạng cơ bản ngành Thép đã thực hiện tốt mục tiêu của Quy hoạch là đáp ứng đủ và kịp thời về số lượng và chủng loại các sản phẩm thép cho nền kinh tế, không để xảy ra tình trạng thiếu thép.

Sản xuất phôi thép, thép xây dựng, thép cán nguội, thép ống, tôn mạ và tôn phủ màu đã đáp ứng 100% nhu cầu sử dụng trong nước và đang hướng tới xuất khẩu một số sản phẩm này.

Sản lượng phôi thép và thép thành phẩm năm 2011 đến nay

 

Năm 2011

Năm  2012

(tấn)

6 tháng 2013 (tấn)

Ước TH 2013

(tấn)

 Phôi thép

4.400.000

5,298,000

2,610,000

5,300,000

  Sản phẩm thép

9.200.000

9,213,000

5,073,693

10,000,000

Việc đầu tư vào ngành thép đã có nhiều thành phần kinh tế tham gia (Doanh nghiệp nhà nước, dân doanh, FDI, liên doanh); đã có sự quan tâm đầu tư vào khâu thượng nguồn (sản xuất phôi thép)

Tuy nhiên ngành Thép còn bộc lộ một số tồn tại, đó là: chưa cân đối nhu cầu sản phẩm (có một số sản phẩm cung vượt xa so với cầu, nhưng có nhiều sản phẩm phải nhập khẩu);

đa số các doanh nghiệp sản xuất thép với quy mô công suất nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu và chưa thân thiện với môi trường, đặc biệt các chỉ số tiêu hao như tiêu hao than cốc (đối với Lò cao), điện năng và điện cực (đối với Lò điện hồ quang).

Về khả năng cung cầu, một số sản phẩm như phôi thép vuông, thép xây dựng hiện chúng ta đã đáp ứng đủ, vượt 1,5 đến 2 lần so với nhu cầu sử dụng. Một số sản phảm hiện đang phải nhập khẩu sẽ được được đẩy mạnh đầu tư để sản xuất trong thời gian tới.

Hỏi:Xin ông cho biết quy hoạch ngành xi măng hiện nay có những tồn tại và phát sinh những vấn đề gì, thưa ông?

Trả lời: Ông Nguyễn Văn Thiện - Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam:

Quy hoạch ngành xi măng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011. Đây là quy hoạch định hướng cho giai đoạn 2011-2020, có tính đến năm 2030. Theo quy hoạch, tổng công suất đến năm 2015 đạt 75 triệu tấn. Quy hoạch này là đúng đắn dự báo được tình hình phát triển của đất nước.

Trước đó, nước ta luôn phải nhập khẩu xi măng, như năm 2005 về trước lúc nào Việt Nam cũng phải nhập khoảng 4-5 triệu tấn/năm.

Để phát huy nguồn lực tài nguyên đất nước cho phát triển kinh tế, xi măng được xác định là “bánh mỳ xây dựng”. Tuy nhiên, không ai lường trước kinh tế thế giới từ 2010 lại đây suy thoái, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng. Trước tình hình đó, Chính phủ đã thắt chặt đầu tư công, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, năm 2011 bất động sản đóng băng. Tất cả những điều trên ảnh hưởng đến ngành xi măng dù quy hoạch đúng đắn. Nếu không khó khăn thì năm 2011 nước ta vẫn tiêu thụ 55 triệu tấn

Trước tình hình đó, giải pháp cho xuất khẩu ngành xi măng đã được thực hiện nhằm tiêu thụ đủ 55 triệu tấn. Năm 2012 tiêu thụ nội địa 46 triệu tấn, xuất khẩu 9 triệu tấn, nên tổng tiêu thụ cũng khoảng 55 triệu tấn.

Tuy nhiên, đến năm 2015 năng lực sản xuất 75 triệu tấn thì vẫn dư thừa. Để giải quyết đầu ra DN đẩy mạnh xuất khẩu, năm nay xuất khẩu tầm 10 triệu tấn

Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã xem xét, rà soát quy hoạch, tạm hoãn khoảng 10 dự án xi măng. Về công nghệ: quy hoạch đã khẳng định sử dụng công nghệ tiên tiến, tự động hóa cao, tiết kiệm tối đa năng lượng… Đến năm 2015 tất cả dự án xi măng có thiết bị tận dụng nhiệt khí thải, nhà máy xi măng sẽ tự sản xuất khoảng 15% lượng điện tiêu thụ. Cuối năm 2013 tổng công suất đạt 70 triệu tấn xi măng, trong đó 68,5 tấn được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến.

Tôi xin khẳng định với ngành điện, công nghệ ngành xi măng là công nghệ hiện đại, không tiêu tốn năng lượng.

Hỏi:Xác định Thép và Xi măng là những ngành quan trọng trong việc sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, vì vậy, trong những năm qua, đầu tư vào ngành thép và xi măng đã được hưởng không ít chính sách ưu đãi của Nhà nước. Trong số những DN phát huy được lợi thế nhưng cũng không ít DN đã không theo kịp được xu thế này. Ông suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?

Trả lời: Ông Nguyễn Tiến Nghi- Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA):

Ngành thép cũng như các ngành khác trong nước mới được phát triển sau khi Nhà nước chuyển đổi nền kinh tế. Quá trình phát triển của ngành tương đối tốt, từ chỗ sản lượng thép xây dựng dưới 1 triệu tấn/năm thì hiện nay công suất thép xây dựng là trên 10 triệu tấn/năm.

Thời gian đầu, do tình hình tài chính của các nhà đầu tư còn thấp nên công nghệ chưa được tiên tiến. Tuy nhiên, từ 2005 đến nay, các nhà đầu tư đã chọn lựa những công nghệ thiết bị hiện đại, tiên tiến hơn. Thực tế, ngành thép Việt Nam so với các nước trong khu vực đều không thua kém. Gần đây nhiều công nghệ còn tiên tiến hơn các nướckhu vực. Đơn cử như Doanh nghiệp thép Việt chỉ đầu tư công nghệ thiết bị của G7; lò công suất lớn. Nhiều doanh nghiệp khác cũng đầu tư công nghệ cao. Lượng tiêu thụ điện của thép là 450 kwh/tấn sản phẩm, đây là mức tiêu hao năng lượng tiên tiến của các nước Đông Nam Á.

Những công nghệ lạc hậu là từ 2005 về trước, dần dà ngành thép đã có thay đổi. Điều này đã dẫn đến tiêu thụ sản phẩm tốt hơn, năm 2013 xuất khẩu thép tăng đáng kể.

Hiện các nhà máy trong nước đã sản xuất t được100% thép xây dựng, ống thép cán nguội, tôn mạ kẽm, thép sơn mạ mầu.

Bộ Công Thương có dự thảo lần 3 xác định giá điện cho ngành thép và xi măng cao hơn các ngành khác từ 2-16% cho từng loại sản phẩm. Chúng tôi nhận thấy đây là đánh giá không công bằng. Thực tế ngành thép được đầu tư từ sau đổi mới, nếu đưa giá điện ngành này cao hơn các ngành khác là không công bằng và thiếu thuyết phục. Đặc biệt hơn, đây là giai đoạn khó khăn của doanh nghiệp nên nếu áp dụng ở thời điểm này thì đã đi ngược Nghị quyết 02 của Chính phủ.

Hiệp hội Thép đánh giá rất cao về xây dựng quy hoạch ngành thép. Tuy nhiên, thời gian qua một số các địa phương không quan tâm lắm đến vấn đề này nên cấp phép không theo quy hoạch. Hiện tại, chúng ta đã dư thừa công suất thép xây dựng tới 1,5- 2 lần so với nhu cầu của xã hội; các sản phẩm thép như cán nguội, ống thép, tôn mạ đều cũng có dấu hiệu dư thừa

Hiệp hội đang tích cực tìm kiếm thị trường xuất khẩu, 6 tháng đầu năm xuất khẩu các mặt hàng thép đã tăng gấp gần 2 lần vê thị phần và sản lượng so với cùng kỳ.

Hỏi:Đại diện cho một số hộ dân sinh sống gần Khu Công nghiệp Đồng Văn, Duy Tiên, tỉnh Hà Nam cho rằng, khu vực họ sịnh sống đang bị ô nhiễm bởi nhà máy thép. Liên quan đến vấn đề này xin hỏi trách nhiệm Bộ Công Thương  trong việc quản lý việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư các dự án thép và tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ được quy định như thế nào, thưa ông? 

(Nguyễn Văn Hùng -  Duy Tiên, Hà Nam)

Trả lời: Ông Bùi Quang Chuyện - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng- Bộ Công Thương:

Quy định về cấp  giấy chứng nhận đầu tư dự án thép đã có Nghị định 108 quy định về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư. Ngành thép không thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên với những dự án có quy mô đầu tư từ 1.500 tỷ trở lên phải có chấp thuận của Thủ tướng và ý kiến của Bộ Công Thương…

Với chức năng bộ quản lý ngành, trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã quan tâm và tích cực chỉ đạo, triển khai các dự án đầu tư thượng nguồn, tăng năng lực sản xuất phôi thép từ quặng sắt, giảm sự phụ thuộc vào phôi thép và thép phế nhập khẩu. Khuyến khích đầu tư một số dự án sản xuất thép tấm cán nóng (hiện nay mỗi năm nhập khẩu sản phẩm này khoảng 3-4 triệu tấn/năm).

Về cấp giấy chứng nhận đầu tư: Theo quy định việc này do UBND các tỉnh hoặc Ban quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất cấp. Đối với các dự án có vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng trở lên thì Bộ Công Thương có trách nhiệm xem xét, góp ý kiến. Trước đây, một số địa phương cấp giấy chứng nhận đầu tư các dự án chưa có trong Quy hoạch ngành, không phù hợp với quy định của Luật Đầu tư, không đảm bảo các điều kiện cần thiết về công nghệ sản xuất, chủng loại sản phẩm, nguồn nguyên liệu đầu vào, hạ tầng cơ sở, điện năng tiêu thụ v.v…, dẫn đến tình trạng đầu tư thiếu tính bền vững, mất cân đối giữa sản xuất thượng nguồn với hạ nguồn, ảnh hưởng đến việc cung cấp điện của các ngành khác và sinh hoạt của nhân dân.

Về tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ: Để quản lý các dự án đầu tư, Bộ Công Thương đã có văn bản số số 8017/BCT-CNNg ngày 17/8/2009 quy định về đầu tư (quy mô công suất) các dự án sản xuất gang, thép. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, hiện nay Bộ Công Thương đang chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, ban hành Thông tư về Quy chuẩn kỹ thuật- công nghệ, thiết bị sản xuất gang, thép phục vụ công tác quản lý đầu tư các dự án sản xuất gang, thép.  Dự kiến, quý 4 năm nay, Bộ Công Thương sẽ ban hành Thông tư nêu trên.

Để hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật, Bộ Công Thương được Thủ tướng Chính phủ giao cho xây dựng quy chuẩn gang thép. Thông qua việc quản lý ngành, Bộ Công Thương mong muốn các ban quản lý KCN, KCX thực hiện theo nghị định 108, phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện tốt các công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường để đầu tư hiệu quả sản xuất.

Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 145 phê duyệt phát triển ngành thép VN, sau 5 năm thực hiện quy hoạch này không phù hợp nữa, giao Bộ Công Thương chỉnh sửa, bổ sung, ban hành Quyết định 694 phát triển bền vững, quy mô công suất sản xuất gang, thép thành phẩm 6 triệu/13 triệu tấn thép thành phẩm. Về quy hoạch 6/4 sản lượng thép năm 2020 tăng rất nhiều so với năm 2015. Các dự án Thái Nguyên, thép Việt, thép Nghi Sơn sẽ đưa vào sản xuất năm 2015, vì vậy sản lượng thép năm 2020 sẽ càng tăng cao. Tiến tới xuất khẩu năm 2015 là 15%, 2025 là 25%. Dự báo ngành thép tăng dần lượng xuất khẩu, giảm dần tỷ lệ nhập khẩu. Hệ thống phân phối thép hiện đại tại một số khu vực như HN, TPHCM. Năm 2025, giao dịch sản phẩm thép sẽ qua cac trung tâm giao dịch giúp tiếp cận các hộ tiêu thụ, giúp các hộ tiêu thụ đặt hàng và tiêu thụ sản xuất.

Hỏi:Là một cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng lâu năm tại Hải Dương, tôi xin hỏi đại diện Hiệp hội Thép và Xi măng: “Nguyên nhân nào đến nay năng lực cạnh tranh của ngành thép (xi măng) VN vẫn còn thấp, nhất là chi phí đầu vào và giá thành còn cao so với nhiều nước xung quanh và lượng xuất khẩu cũng chưa cao? Điều này khiến cơ sở kinh doanh của tôi cũng phải bán hàng giá cao đến khách hàng, dẫn đến thiệt thòi cho cả cơ sở (không bán được nhiều hàng) và quyền lợi khách hàng.

(Ông Lê Hoàng - đại diện Cửa hàng kinh doanh Hoàng Lê, Hải Dương)

Trả lời: Ông Nguyễn Tiến Nghi- Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA):

Đối với ngành thép, phải nói đến các yếu tố đặc thù của Việt Nam. Khi xây dựng một dự án đầu tư thì dựa vào 3 nguồn vốn: tự có, bán trên thị trường chứng khoán và vay ngân hàng. Tại Việt Nam, những năm gần đây vốn tự có khá ít, vốn trên thị trường chứng khoán cuãng không nhiều mà chủ yếu là vốn vay. Vì thế, khi giá thành thép bán ra tương đối cao so với một số nước nên sức cạnh tranh bị ảnh hưởng.

Công nghệ của ngành thép hiện đã có những đổi mới nhất định nên ít nhiều giúp giá thép có cạnh tranh hơn. Năm 2013, khả năng xuất khẩu thép tăng cao, chất lượng và giá của sản phẩm được nhiều nước trong và ngoài khu vực Đông Nam Á chấp nhận.

Với giá bán cụ thể của các công ty kinh doanh trong nước còn bị ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân chứ không riêng khả năng cạnh tranh. Hiện khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng thép của Việt Nam khá tốt, bằng chứng là nhiều sản phẩm của ta bị kiện chống bán phá giá.

Ông Nguyễn Văn Thiện – Chủ tịch Hiệp Hội Xi măng Việt Nam:

Liên quan đến ngành xi măng, hiện nay trong cơ cấu giá xi măng Việt Nam thì nhiên liệu và năng lượng chiếm 45-50%. Trong khi đó các nước trong khu vực tầm 30-35%. Ngoài ra, chi phí đầu tư tài chính cao nhất đến 33%.

Dù vậy, giá xi măng nước ta so với các nước khu vực là thấp nhất, đây là khó khăn với ngành xi măng, dẫn đến lợi nhuận rất thấp, nhiều DN thua lỗ. Nếu thời gian tới điện giá giảm thì ngành xi măng mới phát triển được.

Hỏi:Theo thông tin mới nhất, có tới 50% DN thuộc Tổng công ty Thép làm ăn thua lỗ, thậm chí trên bờ vực phá sản. Ông suy nghĩ thế nào về điều này?

Trả lời: Ông Nguyễn Tiến Nghi- Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA):

Đây là câu hỏi khá hay và nhạy cảm. Đối với ở Việt Nam, từ “phá sản” ít được dùng. Các doanh nghiệp thép hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn, đơn cử như giá phôi thép đang từ 11,7 triệu đồng/tấn cộng với giá gia công thì DN không có lãi. Hiện nay nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn, còn nói phá sản hay không thì hơi sớm trong việc bình luận về phá sản của doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Hỏi: Có thông tin đưa là ngành thép và xi măng chiếm 11,5% tổng sản lượng điện thương phẩm cả nước (Cục Điều tiết điện lực) nhưng cũng có thông tin đưa là chiếm tới gần 30% tổng sản lượng điện thương phẩm. Vậy, ông có thể cho biết, tổng lượng điện mà ngành thép xi măng đã tiêu thụ từ năm 2011 đến nay như thế nào? Chi phí giá thành về điện năng trong cơ cấu giá thành các sản phẩm thép như thế nào?

Trả lời: Ông Bùi Quang Chuyện - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng- Bộ Công Thương:

Có 2 phần, tổng lượng điện tiêu thụ của ngành thép và xi măng

Theo báo cáo 2662 EVN, đối với việc tiêu thụ điện của 2 ngành năm 2011 là 5,7 tỷ KWh, thép  5,17kwh chiếm 6,1 % sản lượng điện. Năm 2012 là 5,6 tỷ kwh, 6 tháng năm 2013 lần lượt tiêu thụ 2,6 tỷ kwh chiếm 4,8 %

Tổng tiêu thụ lượng điện trong 2010 là 12%, năm 2011 là 11,6%,năm 2012 là 11,4%. Dự báo năm 2013 giảm xuống khoảng 10%. Chi phí giá thành điện năng trong giá thành sản phẩm thép thì sản xuất phôi thép từ thép phế sử dụng lò điện hồ quang là 550-600kwh/tấn, chi phí điện năng chiếm khoảng 5-6% chi phí giá thành. Một số dự án lớn cũng sử dụng lò điện hồ quang, giá thành sẽ dưới 5%. Với thép cán nguôi, thép cán ống chi phí điện năng chỉ chiếm 0,6-1,8%. Giá điện đối với các sản phẩm trong cán thép chiếm tỷ lệ rất nhỏ, vì thế nói quy định ngành sản xuất thép sử dụng điện giá rẻ là chưa đúng.

Ông Nguyễn Văn Thiện – Chủ tịch Hiệp Hội Xi măng Việt Nam:

Tính theo giá điện bình quân thì điện chiếm từ 15-17% trong giá thành xi măng. Mức tiêu hao điện của xi măng Việt Nam khoảng 90-100 kwh/tấn. Đây là mức tiêu thụ tiêu hao trung bình tiên tiến so với các nước trên thế giới. Ngành xi măng 5 năm nay đã tìm mọi giải pháp tiết kiệm điện tối đa.

Quang cảnh cuộc tọa đàm trực tuyến:

 

Công Thương điện tử tiếp tục cập nhật những thông tin tại  tọa đàm:

Hỏi:Theo Bộ Tài chính, tiêu hao điện của ngành thép và xi măng chiếm rất lớn trong tổng sản lượng điện thương phẩm cả nước. Ông suy nghĩ thế nào về vấn đề này?

Trả lời: Ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam:

Như ông Nghi và ông Thiện nói, theo tôi trong tổng sản lượng điện sử dụng trong ngành công nghiệp Việt Nam chiếm 70% thì trong đó ngành thép và xi măng không chỉ chiếm 11-12% mà chắc chắn chiếm tỷ lệ cao hơn.

2 con số mà ông Thiện và ông Nghi nêu ra theo tôi là con số tiêu hao tương đối lớn. Tiêu hao điện năng chiếm 0,6-1% là chưa chính xác. Trong tổng số 70% điện năng bán ra thị trường trong ngành công nghiệp, trong đó thép và xi măng chiếm tỷ lệ lớn. Theo tôi, cần có tầm nhìn tương đối xa đối với hai ngành này.

Hiện nay giá điện bình quân là 1.600 đồng/kWh. Đến năm 2020, sẽ nâng toàn bộ công suất điện lên thì cần có 80 triệu tấn than. Mà hiện nay than ngày càng ít đi, năm ngoái khai thác 40 triệu tấn, năm nay chỉ được 30 triệu tấn, có nghĩa là sắp tới ta phải nhập khẩu than. Như vậy giá điện trong tương lai tới gần sẽ tăng từ 6.200 đồng/kWh lên tới 8.000- 9.000 đồng/kWh. Nếu không đủ công nghệ, trang thiết bị sẽ đón nhận hậu quả rất kinh khủng. Giá điện cỡ 6.200 đồng/kWh hiện nay là quá rẻ. Ngành điện đang lỗ rất lớn, không đủ tiền để trả cho các ngành khác. 6 tháng đầu năm, điện, than, khí nợ gần 10.000 tỷ đồng.

Từ đầu năm việc vay vốn đầu tư rất nhiều khó khăn, trong khi đó giá bán điện thì cứng, giá đầu vào theo cơ chế thị trường, đầu ra theo cơ chế XHCN. Lỗ của ngành điện nếu không được các ngành chia sẻ sẽ rất khó khăn. Nếu cứ mỗi lần tăng 1- 5% giá bán điện thì không thấm vào đâu.

Tôi đánh giá cao ngành thép và xi măng, cơ bản đã đủ thép cho ngành kinh tế, cho xây dựng và các ngành khác, nhưng đó là sự phát triển ồ ạt của những năm trước đây. Rất nhiều đơn vị thép nhỏ lẻ công suất rất lớn, đa số nhập công nghệ Đài Loan đã cũ, tiêu hao điện năng rất lớn.

Với cách tính toán, suy nghĩ như vậy, tôi cho rằng: Thứ nhất, ngành xi măng, ngành thép cần có cái nhìn xa hơn, cần có quy hoạch đồng bộ mang tính vừa phát triển vừa cân đối cung cầu.

Hiện nay, Trung Quốc đã sản xuất thép, giá thành bán ra rẻ hơn, chúng ta không cạnh tranh được. Làm sao để giảm tiêu hao năng lượng, cấu thành giá thành nói chung, giá thành yếu tố cộng lại thì cho thấy Việt Nam có những chi phí vô lý, bất hợp lý chiếm khá nhiều trong giá thành.

Thứ 2, phải có chính sách tìm kiếm năng lượng. Ví dụ xử lý chất thải tạo ra tuốc-bin nhỏ ít ra cũng phục vụ cho 25% ngành xi măng, ngành thép nên tổ chức lại, cơ cấu lại, gom lại, cần đầu tư công suất cỡ 1 triệu tấn/năm trở lên. Công suất cao, công nghệ mới sẽ giảm tiêu hao năng lượng.

Vấn đề nữa cần quan tâm, theo tính toán năm 2012 của Tập đoàn điện lực VN, do cường độ tiêu hao điện quá lớn, nên ngành điện vừa chăm lo đủ điện phát triển xã hội vừa vận động toàn dân tiết kiệm được. Ngành thép và xi măng cần phải thông cảm cho ngành điện vì ngành điện đang chịu lỗ rất lớn và chịu sức ép đầu tư mạnh.

Thực chất tỉ lệ tiêu hao ngành thép và xi măng tương đối cao. Tôi cho rằng, nhiều biện pháp giải quyết vấn đề khó khăn cho ngành thép và xi măng ngoài việc nâng cao công nghệ, tái cơ cấu… tuy nhiên chưa đề cập nhiều tới tiết kiệm năng lượng.

Tôi nghĩ 2 ngành thép và xi măng để đảm bảo phát triển lâu dài cần quan tâm tới tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm điện để giảm giá thành, sản phẩm đưa ra nhiều và chất lượng tốt thì mới đủ sức cạnh tranh.

Hỏi:Có một số lý do như: năng lượng điện có hạn, tạo sức ép để ngành thép, xi măng “Đầu tư công nghệ và thiết bị tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, năng suất cao, thân thiện với môi trường”. Do vậy, Bộ Công Thương xây dựng Dự thảo cơ cấu giá điện, trong đó có biểu giá điện riêng cho ngành thép và xi măng cao hơn các ngành sản xuất khác, và tăng so với hiện tại sẽ từ 2-16%, ý kiến của ông về vấn đề này, thưa ông?

Trả lời: Ông Bùi Quang Chuyện - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng- Bộ Công Thương:

Nói rằng ngành điện đang tạo sức ép để ngành thép và xi măng phải đổi mới công nghệ là chưa hoàn toàn đúng. Bởi lẽ, trước hết là từ lợi tích của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải đưa công nghệ tiên tiên vào, ngoài ra còn vấn đề bảo vệ môi trường.

Các doanh nghiệp sản xuất thép cần chia sẽ khó khăn của ngành điện, do giá ngành điện chưa theo kịp giá thị trường, rẻ hơn các nước trong khu vực nên việc kêu gọi nhà đầu tư vào ngành điện gặp khó khăn, Do đó, ngành điện buộc phải tăng giá để bù lỗ. Muốn mời gọi nhà đầu tư thì giá bán điện phải tiến gần giá thị trường. Việc khuyến khích hạn chế sử dụng điện, sử dụng điện vào giừ thấp điểm, không khuyến khích sử dụng công nghệ tiêu hao điện năng là điều cần thiết…

Cần tăng cường các dự án thép hiện đại dần thay thế những nhà mày gang, thép manh mún, lạc hậu.

Từ năm 2013 trở đi không cấp phép cho các dự án mới với công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng.

Về ý kiến giá điện cho ngành thép và xi măng cao hơn từ 2 đến 16%, ngành thép và xi măng đang gặp nhiều khó khăn, một số sản phẩm của ngành thép thuộc danh mục ưu tiên “bánh mì của công nghiệp” vì vậy, ngành điện nên xem xét việc tăng giá, có lộ trình hợp lý. Hay như đặc thù ngành thép, khi đang vận hành mà mất điện sẽ gây thiệt hại lớn, ngành điện cần xem xét tính ổn định của nguồn điện…

Ngoài ra, ngành thép có rất nhiều công đoạn từ sản xuất gang, sản xuất phôi thép, đến các nhà máy cán thép ra thép thành phẩm… nên xem xét những công đoạn nào tiêu hao nhiều năng lượng, quy mô công suất nhỏ. Cần xem xét lộ trình để ngành thép có thể phát triển, phát triển bền vững.

Hỏi: Ông Lại Quang Trung- Phó Tổng giám đốc Công ty Liên doanh sản xuất thép Vinausteel (Thép Việt- Úc): Tôi muốn được hỏi trực tiếp ảnh hưởng của việc tăng giá điện, việc phân biệt đối xử đối với ngành thép và xi măng trong dự thảo “Quy định về cơ cấu biểu giá bán điện”.

Quan điểm của chúng tôi : Mục tiêu của ngành điện khi tăng giá điện để tăng nguồn thu, tái đầu tư và tăng thu ngân sách nhà nước. Đây cũng là thông điệp để người sử dụng điện tiết kiệm hơn. Chúng tôi mong ước được như ngành điện, có sản phẩm đưa ra mà không có sự cạnh tranh, ai cũng phải mua để dùng. Tuy nhiên, ngành điện nên tự thử hỏi rằng, để đạt được mục tiêu tăng giá điện thì các ngành khác và cả nền kinh tế sẽ phải trả giá như thế nào? Nguồn thu tăng lên được bao nhiêu, có tác dụng tốt với nền kinh tế hay không? Nếu ngành thép và xi măng bị suy giảm do tăng giá điện thì cũng sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế.

Trong giai đoạn khó khăn này, khi Chính phủ đang có nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thì ngành điện lại tính chuyện tăng giá riêng cho thép và xi măng, gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Hiện tại, trung tâm thép của Việt Nam là Hải Phòng đang có nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, cụ thể là là 4 doanh nghiệp luyện thép công suất 1 triệu tấn và 3 doanh nghiệp cán thép công suất 60.000 tấn đã dừng hoạt động, kéo theo hơn 2.000 lao động không có việc làm, tệ nạn xã hội có cơ hội phát sinh. Tại sao chúng ta không giữ ổn định cho các ngành mũi nhọn này mà đẩy họ vào hoàn cảnh khó khăn? Tăng lên để kiếm một khoản tiền thì dễ nhưng tác động của nó vào nền kinh tế lại không nhỏ. Trước đây, để tạo một việc làm mới, Nhà nước mất khoảng 15 triệu đồng. Với 2.000 lao động không có việc làm này thì cần 30 tỷ đồng để khôi phục việc làm cho họ, đây là nguồn vốn rất lớn. Đấy là chưa kể tăng giá điện chưa chắc ngành điện đã thu được tiền. Tăng thu mà giết nguồn thu thì sẽ không có gì để thu. Tôi biết ở Hải Phòng có 4-5 doanh nghiệp đang nợ ngành điện hơn 10 tỷ đồng mà chưa trả được. Đấy là chưa kể tăng giá điện chưa chắc ngành điện đã thu được tiền bởi doanh nghệp đóng cửa thì doanh nghiệp sẽ không thu được tiền điện, các chi phí cho doanh nghiệp để có điện sản xuất cũng không về được. Tăng thu mà giết nguồn thu thì sẽ không có gì để thu

Tăng giá điện đã khó, mà lại tăng trong cảnh phân biệt đối xử với các doanh nghiệp thì càng không thể được. Đằng sau các doanh nghiệp là gia đình của họ và sự ổn định của cả xã hội.

Trả lời: Ông Nguyễn Tiến Nghi- Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA):

Đối với ngành thép, cho đến hiện nay tiêu thụ nhiều điện là sản xuất phôi thép, khoảng 450-500 kw/tấn sản phẩm, chiếm từ 5-5,5% trong tỷ suất giá thành. Nếu giá điện tăng lên thì sẽ có một số điều không tốt xảy ra:

Thứ nhất, trước đây có những năm chúng ta phải nhập khẩu phôi thép tới 70-80%, mất một nguồn ngoại tệ lớn. Khi Chính phủ khuyến khích các nhà đầu tư vào sản xuất phôi thép thì hiện nay chúng ta đã đáp ứng được 100% sản xuất phôi thép trong nước. Điêu này không chỉ bớt ngoại tệ nhập khẩu mà còn tạo được việc làm.

Thứ 2, nếu tăng giá điện thì trái với khuyến khích của Chính phủ, vì đây là ngành đầu vào của nhiều lĩnh vực sản xuất. Giai đoạn này ngành thép lại đang rất khó khăn, nếu tăng giá điện sẽ làm tăng thêm đầu vào của thép và xi măng mà đầu ra không tăng, thậm chí còn giảm, sẽ gây khó khăn cho DN và nền kinh tế.

Ngoài luyện thép thì các lĩnh vực sản xuất khác của ngành thép tiêu hao năng lượng thấp 100-120 kw điện/tấn sản phẩm, như cán thép, ống théo, tôn nguội, cán mạ.

Thứ 3, việc tăng giá điện để tiến tới cho ngành điện không còn lỗ thì chúng tôi ủng hộ nhưng cần có lộ trình đặt ra cho phù hợp với tình hình. Trong giai đoạn hiện nay nếu tăng giá điện thì hại nhiều hơn lợi.

Còn đánh giá tiêu hao điện hiện nay ở mức nào, theo chúng tôi nhận thấy là ngang bằng với các nước trong khu vực, vì nhiều sản phẩm thép Việt Nam vẫn xuất khẩu được sang các nước khu vực. Vì thế, tiêu hao điện đang ở mức trung bình tiên tiến; cũng có những lò điện nhỏ hơn đang được dần thay đổi. Chính doanh nghiệp cũng nhận thấy không thay đổi công nghệ thì sẽ bị đào thải.

Ví dụ sản xuất cán thép, các doanh nghiệp tiêu hao 100kw điện/tấn sản phẩm, nếu doanh nghiệp nào có mức tiêu hao 150kw điện/tấn sản phẩm thì sẽ khó khăn… Vì thế, thời điểm hiện nay không nên tăng và cần có sự công bằng về giá điện cho các ngành sản xuất

Ông Nguyễn Văn Thiện – Chủ tịch Hiệp hội Xi măng:

Đối với ngành xi măng, như tôi đã nói, giá xi măng Việt Nam đang thấp hơn các nước trong khu vực. Tại Việt Nam, điện chiếm 15-17% trong giá thành xi măng, các nước Đông Nam Á chỉ chiếm 10-12%. Tuy nhiên, giá xi măng không thể nâng được vì nâng lên phải căn cức vào thu nhập bình quân.

Do đó, các DN nên bình đẳng với nhau, tại sao thép và xi măng phải sử dụng giá điện cao hơn? Thực tế có nghịch lý càng dùng nhiều điện thì càng đắt. Theo tôi, nghịch lý đó thì phải chấp nhận nhưng Hiệp hội Xi măng Việt Nam không tán thành việc đưa giá điện cho ngành thép, xi măng cao hơn ngành khác.

Hỏi:Có một số lý do như: năng lượng điện có hạn, tạo sức ép để ngành thép, xi măng “Đầu tư công nghệ và thiết bị tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, năng suất cao, thân thiện với môi trường”. Do vậy, Bộ Công Thương xây dựng Dự thảo cơ cấu giá điện, trong đó có biểu giá điện riêng cho ngành thép và xi măng cao hơn các ngành sản xuất khác, và tăng so với hiện tại sẽ từ 2-16%, ý kiến của ông về vấn đề này, thưa ông? Thưa ông, ý kiến vừa rồi, nếu như biểu giá điện mới được áp dụng, với quan điểm của ông, có nghĩ đến việc thay đổi 2 ngành này không?

Trả lời: Ông Trần Viết Ngãi – Hiệp hội Năng lượng Việt Nam:

Theo tôi khẳng định, cần có tầm nhìn xa về nền kinh tế của đất nước, mục tiêu tới 2020 đưa đất nước Việt Nam thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, lúc đó tất cả các doanh nghiệp, xí nghiệp công ty làm công nghiệp trong cả nước đạt trình độ nào đó, ít nhất ngang khu vực. Đầu tiên phải đòi hỏi từng nhà máy, xí nghiệp công nghiệp thay đổi công nghệ, đổi mới vật tư...

Ngành năng lượng nói chung và ngành điện nói riêng chiếm vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế đất nước, nếu thiếu cái này thì không có gì phát triển và không làm ăn được.

Hiện nay đang tồn tại hết sức bất cập. Dứt khoát phải tăng giá điện, còn việc tăng giá điện như thế nào thì phụ thuộc vào cơ chế của Nhà nước, Chính phủ và có đủ điều kiện tái đầu tư phát triển. Hiện nay, giá bình quân của khu vực là 10 cent/kWh, còn Việt Nam là 7 cent/kWh. Vì giá điện rẻ, nhiều dự án BOT đầu tư vào Việt Nam đã bỏ. Hiện nay, ngành điện lỗ, không có tiền, đi vay để đầu tư cho nhà máy. Riêng nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1.000 MW đầu tư đến 1,7 tỷ USD. Riêng EVN chiếm hơn 10 nhà máy như vậy, chưa kể cả rất nhiều nhà máy điện khác. Nếu ngành điện không lãi để tái đầu tư được thì thậm chí mất cả điện, thì việc phát triển ngành kinh tế sẽ như thế nào.

Nếu không tăng giá điện thì ngành điện nói riêng và ngành năng lượng VN nói chung rất nguy hiểm.

Việc tăng giá điện cho ngành thép và xi măng từ 2-16%, theo quan điểm của tôi, việc này không thể nói đơn giản được và cần điều tra thật kỹ tỷ trọng chiếm phần tiêu thụ điện năng trong công nghiệp chiếm bao nhiêu %. Ảnh hưởng của nó vào việc làm giảm lợi nhuận của ngành điện là bao nhiêu. Từ đó, nếu tăng 5-7% thậm chí là 10% thì có lợi cái gì và hại như thế nào.

Nếu tăng thêm, cần có sự cân nhắc và tăng thêm ở mức nào đó thì theo quan điểm của chúng tôi là tăng ở mức thấp.

Theo tôi, lộ trình tăng giá điện tới 2020 mới nâng lên 9 cent, sau 2020 dần sẽ nâng cao hơn. Lộ trình này theo tôi cũng không đúng, năm 2020 có thể lên hơn 10 cent. Chúng ta phải nhập khẩu, không có khí tự nhiên nữa, giá vài trăm USD/khí nữa, nhập khí hóa lỏng vào chạy cho hàng chục nghìn MW điện ở khu vực Sài Gòn...  Giá than nhập cũng cao, Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam đã đi khảo sát một số nước như Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc thì là cỡ trên 4 triệu đồng/tấn, đầu vào lớn như vậy thì giá không thể ở cỡ 7-9 cent như bây giờ.

Chúng ta cần suy nghĩ, 2 ngành xi măng và thép cần sớm đổi mới công nghệ, cơ cấu lại sản xuất và lựa chọn công nghệ như thế nào để tiêu hao điện năng tốt nhất. Ngành điện nói riêng và ngành năng lượng nói chung cần có quy hoạch lớn để chuẩn bị đón đầu cho việc nhập khẩu nhiên liệu như than, khí.

Vừa qua, tôi có đi khảo sát ở nhà máy dầu Dung Quất, sử dụng dầu bạch hổ là dầu ngọt mà tính toán của ngành khí Việt Nam chỉ tới 4 năm nữa là hết. Trước đó hàng chục năm bán chủ yếu là dầu thô. Dầu ngọt là dầu đắt nhất nhưng hiện nay cũng gần hết rồi.

Như vậy, tính tới năm 2020 còn không nhiều nhiên liệu nữa, thủy điện đến năm 2017 thì sẽ chấm dứt không xây dựng, vượt ngoài con số 17 nghìn MW chỉ được mùa mưa, chứ mùa khô thì phát được một nửa công suất thôi.

Ngành điện nói riêng, ngành năng lượng nói chung ngày càng khó khăn, đầu tư ngày càng nhiều và gặp nhiều khó khăn, lỗ rất nhiều. Năm nay toàn bộ miền Tây hoàn toàn chạy dầu, khí chỉ 40% còn 60% chạy dầu. 1kWh lên tới 4.000- 5.000 đồng. Tần độ liên tục, nếu không đầu tư và ngân sách đúng đắn, đảm bảo đủ năng lượng phát triển kinh tế  thì đến năm 2020 VN khó trở thành nước công nghiệp hóa.

Cách đây 1 tuần, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết, tổng quy hoạch điện 7 phá sản, giao Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực tổ chức hội thảo lấy ý kiến để đánh giá nhận xét, tính toán để năm 2014 xác định lại tổng điện 7 như thế nào? Năm 2020 Việt Nam có 75.000 MW tương đương 367 tỷ KWh điện, do vậy, nên hiểu cho ngành năng lượng như vậy.

Khái niệm độc quyền không phải do họ độc quyền mà do lịch sử để lại, vì ai thay thế ngành điện, từ việc xây dựng nhà máy, truyền tải, quản lý, bán lẻ, cung cấp hộ gia đình... Họ cũng muốn chia sẻ nhưng không biết chia sẻ như nào?

Như Nhật Bản có 7 công ty, họ liên thông bằng các kết nối. Có thể ở Tokyo có thể mua điện ở chỗ khác còn Việt Nam là chung 1 hệ thống.

Hiện nay ngành điện bị lỗ, kéo dài tình trạng này thì không chỉ 1 doanh nghiệp phá sản mà cả các DN trên VN phá sản. Tăng giá điện như thế nào do Nhà nước, Chính phủ quan điểm như thế nào đó để tiệm cận giá ngang khu vực, đầu tư trong nước một phần và đầu tư nước ngoài nhiều hơn. Đầu vào công ty mua bán điện thỏa thuận nhà bán điện với EVN, đầu ra hoàn toàn là điện bán lẻ.

Sau 2022 mới có thị trường bán lẻ. Cần rút ngắn tiến độ, khoảng năm 2017 mới có giá thị trường bán lẻ điện.

Với giá này ngành điện lỗ, không có tiền để đầu tư, chỉ có đủ tiền đầu tư cho dự án. Tôi mới nghiên cứu xong điện nguyên tử Ninh Thuận 1 và 2, vướng mắc lớn là về tài chính, theo tính toán của Hiệp hội Năng lượng thì có xong sau năm 2020... Cần có quan điểm rõ ràng, tăng giá điện thêm để đủ lượng vốn ngoài chi phí cho ngành tái đầu tư phát triển, nếu tăng thêm từ 2-6-16% cần cân nhắc kỹ, đề nghị ngành thép và xi măng có báo cáo chính xác, 1 năm tiêu thụ bao nhiêu kWh, tiết kiệm bao nhiêu và nó ảnh hưởng đến ngành điện và ngành năng lượng VN bao nhiêu. Mặt khác, ngành điện có điều tra rất kỹ vì ngành thép và xi măng có nhu cầu cao như vậy thì cần nâng giá điện lên.

Hỏi:Đối với ý kiến của Hiệp hội Thép cần đưa ra lộ trình để ngành thép và xi măng thực hiện giảm tiêu hao năng lượng ông có ý kiến gì?

Trả lời: Ông Bùi Quang Chuyện - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng - Bộ Công Thương:

Ngành điện, thép và xi măng đều có những khó khăn. Khó của điện là giá bán thấp hơn nhiều so với giá thành, ngành điện đang chịu lỗ lớn. Đối với ngành thép và xi măng đang đối mặt với khó khăn về tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Mục tiêu của chúng ta là các ngành đều cùng phát triển, vì thế cần tìm giải pháp tổng thể.

Phải nhìn nhận, muốn hay không muốn giá điện cũng phải tăng, đây là điều không tránh khỏi. Đối với thép và xi măng thì đặt ra 2 vấn đề: một là, có nên tăng giá điện với 2 ngành này; thứ hai là hai ngành này phải đổi mới công nghệ.

Nói về lộ trình khi nào tăng, tăng thế nào là phù hợp cần đánh giá khách quan, chính xác, phải tính toán, kiểm tra, đánh giá xem công nghệ có phải tiêu hao lãng phí điện hay không?

Các doanh nghiệp, hiệp hội thống kê tổng hợp, phải có báo cáo trung thực để bên có trách nhiệm có cơ sở, xem xét.

Với lộ trình thay đổi công nghệ và dần xóa bỏ công nghệ lạc hậu thì đến thời điểm năm 2020 với ngành thép, những công nghệ lạc hậu phải được xóa bỏ, thay vào đó là công nghệ tiên tiến. Có một số doanh nghiệp đang đầu tư.

Đến năm 2020 các doanh nghiệp công nghệ lạc hậu không thay đổi thì sẽ phá sản vì không cạnh trạnh được vì tiêu hao nhiên liệu, năng lượng nhiều, giá thành không thể cạnh tranh thì sẽ tự động phải phá sản.

Thông qua tọa đàm, các doanh nghiệp sản xuất phải có chia sẻ với ngành điện, cùng với đó ngành điện, các đơn vị chắn năng cũng phải có cân đối, tính toán lộ trình, sự hợp lý trong việc tăng giá điện.

 

Người dẫn chương trình: Thưa các Quý vị, thưa độc giả!

Như vậy là trong hơn 2 giờ đồng hồ vừa qua, Tọa đàm trực tuyến, các vị Khách mời của chúng ta đã giải đáp được hơn 20 câu hỏi của chương trình.

Cảm ơn các vị khách mời đã giải đáp được một số quan tâm, thắc mắc cũng như kiến nghị của các độc giả, các địa phương, các DN trong ngành thép và xi măng. Trong đó đặc biệt là định hướng và các giải pháp đối với sự phát triển của ngành thép và xi măng trong những năm tiếp theo.

Chương trình trực tuyến cũng đã nhận thêm hơn 20 ý kiến đóng góp về Dự thảo quy định về cơ cấu giá điện bán lẻ của các Sở Công thương, doanh nghiệp và bạn đọc trong cả nước.

Do thời lượng chương trình có hạn, Ban Biên tập sẽ có trách nhiệm gửi tới các vị khách mời cũng như các cơ quan chức năng những câu hỏi mà DN và các độc giả gửi tới, sau đó đăng tải trên mục Đối thoại và Chính sách của Báo Công Thương Điện tử và mục Bạn đọc của Báo Công Thương trong thời gian tới. Mong các quý vị và độc giả theo dõi.

Xin cảm ơn các quý vị khách mời, các vị đại biểu. Xin cảm ơn các nhà tài trợ và cảm ơn sự theo dõi của các độc giả!