Thúc đẩy nhiên liệu sinh học để tăng tự chủ năng lượng quốc gia

Theo Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam Bùi Ngọc Bảo, phát triển nhiên liệu sinh học là giải pháp quan trọng giúp Việt Nam giảm phụ thuộc nhập khẩu, tự chủ năng lượng.

Nhiên liệu sinh học giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch

- Trong bối cảnh thị trường dầu mỏ thế giới còn nhiều biến động liên tục từ đầu năm đến nay, ông đánh giá vai trò của nhiên liệu sinh học như thế nào trong việc giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu và tăng mức độ tự chủ năng lượng của Việt Nam? Hiện nay, mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp hội viên, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu mối và thương nhân phân phối ra sao, thưa ông?

Ông Bùi Ngọc Bảo: Chương trình nhiên liệu sinh học của Việt Nam đã được Chính phủ định hướng từ rất sớm, từ giai đoạn 2011 - 2012, thông qua các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giảm khí thải và phát triển nhiên liệu sinh học. Trong các năm 2014 - 2015, chúng ta đã triển khai xăng E5 khá đồng bộ trên phạm vi cả nước. Có thể nói đây là một chương trình đưa sản phẩm mới vào thị trường được thực hiện tương đối bài bản.

Ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam.

Ông Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam.

Theo lộ trình ban đầu, sau E5 chúng ta cần tiếp tục triển khai E10 trong giai đoạn 2020 - 2022. Tuy nhiên, do việc phối hợp giữa các bên chưa đồng bộ nên lộ trình này đã chậm hơn so với kỳ vọng.

Cũng cần nhấn mạnh rằng nhiên liệu sinh học không chỉ bao gồm xăng E5 hay E10 mà còn có biodiesel như B5, B10. Đây là một cấu phần quan trọng trong tổng thể chương trình phát triển nhiên liệu sinh học của Việt Nam.

Về ý nghĩa, trước hết,nhiên liệu sinh học góp phần thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh và giảm phát thải mà Việt Nam đã cam kết tại hội nghị COP26.

Thứ hai, với tỷ lệ phối trộn 5% hoặc 10% như E5, E10, B5, B10, Việt Nam có thể giảm đáng kể mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với một nền kinh tế vẫn có tỷ trọng nông nghiệp lớn như Việt Nam. Chương trình nhiên liệu sinh học đã tạo đầu ra cho nông sản như sắn, ngô, góp phần tăng cường liên kết giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến.

Thứ ba, nếu mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 26 triệu m³, tấn xăng dầu thì với tỷ lệ phối trộn 10%, lượng nhiên liệu hóa thạch được thay thế là rất đáng kể. Khi chương trình được triển khai tốt và tiến tới các mức cao hơn như E15, E20 hoặc B15, B20 như một số quốc gia đã thực hiện, hiệu quả giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu sẽ còn rõ nét hơn.

Hiện nay, Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn lại 30% phải nhập khẩu. Vì vậy, mọi chương trình giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đều mang ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng quốc gia.

Về mức độ sẵn sàng, có thể khẳng định các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã chuẩn bị từ lâu nhờ kinh nghiệm triển khai xăng E5. Khi E10 được áp dụng đồng bộ từ ngày 1/6 tới, các doanh nghiệp sẽ phải cơ cấu lại hệ thống kỹ thuật, nguồn nguyên liệu và kế hoạch thị trường. Những doanh nghiệp chưa có sẵn cơ sở vật chất cũng đã chủ động làm việc với các đầu mối lớn để thuê dịch vụ pha chế và lưu trữ.

Từ góc độ Hiệp hội, chúng tôi đánh giá hệ thống kinh doanh xăng dầu đã sẵn sàng cho lộ trình triển khai từ ngày 1/6/2026.

Chủ động nguồn ethanol bảo đảm lộ trình phối trộn

- Đối với nguồn ethanol hoặc nguyên liệu cần nhập khẩu để bảo đảm đủ sản lượng phối trộn, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội đã xây dựng kế hoạch cũng như đàm phán hợp đồng dài hạn, đa dạng hóa nguồn cung và chủ động logistics ra sao để tránh bị động khi nhu cầu tăng mạnh, thưa ông?

Ông Bùi Ngọc Bảo: Đối với các sản phẩm năng lượng, yếu tố quan trọng nhất là tính dài hạn. Điều này không chỉ liên quan đến nguồn cung mà còn bao gồm hợp đồng cung ứng cũng như cơ chế chính sách của Nhà nước về thuế, phí và thương mại.

Trong giai đoạn 2026 - 2027 và các năm tiếp theo, có thể khẳng định, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu khoảng 70 - 80% nhu cầu ethanol, tương đương khoảng 700.000 đến xấp xỉ 1 triệu m³ mỗi năm.

Hiện nay, nguồn cung phù hợp nhất đến từ Hoa Kỳ và Brazil, trong đó Hoa Kỳ là thị trường đặc biệt quan trọng. Với khoảng cách vận chuyển khá xa, việc nhập khẩu ethanol đòi hỏi phải sử dụng tàu lớn và hệ thống logistics đủ mạnh, không thể chia nhỏ thành nhiều lô hàng nhỏ lẻ.

Trong bối cảnh nhu cầu ethanol tại Đông Nam Á ngày càng tăng, xu hướng hình thành các trung tâm trung chuyển trong khu vực là tất yếu. Trước đây các hub chủ yếu đặt tại Hàn Quốc, sau đó dần dịch chuyển về Singapore.

Theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam, xăng sinh học E10 sẽ chính thức được đưa ra thị trường từ ngày 1/6/2026, hiệp hội kỳ vọng Việt Nam có thể từng bước trở thành một điểm trung chuyển ethanol lớn hơn trong khu vực. Khi đó, doanh nghiệp trong nước sẽ chủ động hơn nhiều về nguồn cung.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chủ động ký kết các hợp đồng dài hạn, hợp đồng ngắn hạn theo quý, cũng như mua giao ngay để bảo đảm nguồn cung. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả hơn, hiệp hội đã kiến nghị một số vấn đề chính sách, trong đó có thuế nhập khẩu ethanol và đặc biệt là thuế nhà thầu đối với hàng hóa gửi tại kho ngoại quan.

Nếu nhà cung cấp nước ngoài đưa ethanol vào kho ngoại quan tại Việt Nam rồi bán vào thị trường nội địa mà phải chịu thuế nhà thầu 1%, chi phí sẽ tăng lên đáng kể, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy, hiệp hội đã kiến nghị xem xét bãi bỏ thuế nhà thầu đối với hàng hóa gửi tại kho ngoại quan, không chỉ đối với ethanol mà cả xăng dầu nói chung.

Nếu tháo gỡ được điểm nghẽn này, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành các kho trung chuyển ethanol lớn. Khi đó, doanh nghiệp có thể mua hàng ngay trong nước từ kho ngoại quan, giảm áp lực tồn chứa, giảm chi phí tài chính và hạ giá thành. Đây là giải pháp rất thực tế để ổn định nguồn cung và hỗ trợ thị trường phát triển bền vững.

Xăng sinh học E5 đã dần quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Ảnh: Cấn Dũng

Xăng sinh học E5 đã dần quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Ảnh: Cấn Dũng

Hiệp hội đóng vai trò cầu nối hỗ trợ doanh nghiệp triển khai E10

- Với vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý, hiệp hội đã và sẽ triển khai những giải pháp cụ thể nào để hỗ trợ hội viên thực hiện đúng lộ trình phối trộn, thưa ông?

Ông Bùi Ngọc Bảo: Trong thời gian qua, hiệp hội là đầu mối tiếp nhận và trao đổi với nhiều tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài quan tâm đến thị trường ethanol cũng như lộ trình triển khai E10 tại Việt Nam. Đồng thời, đóng vai trò kết nối giữa Bộ Công Thương và các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.

Chúng tôi triển khai nhiều hoạt động như tuyên truyền chủ trương, hỗ trợ doanh nghiệp về mặt kỹ thuật, kiến nghị chính sách với Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, đồng thời kết nối giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ hơn để chia sẻ năng lực công nghệ, thương mại và nguồn hàng.

Hiện nay, cùng với các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp lớn như Petrolimex, Saigon Petro, PVOIL…, hiệp hội có điều kiện hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp nhỏ trong quá trình triển khai lộ trình E10. Bên cạnh đó, làm việc với các cơ quan quản lý để rà soát hệ thống quy chuẩn kỹ thuật.

Ethanol có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau, trong khi quy chuẩn hiện hành chủ yếu được xây dựng dựa trên cơ sở sản xuất trong nước. Nếu không kịp thời điều chỉnh, đây có thể trở thành điểm nghẽn trong quá trình triển khai. Mục tiêu của hiệp hội là bảo đảm lộ trình áp dụng từ ngày 1/6/2026 không gặp trở ngại từ phía doanh nghiệp, cơ quan quản lý hay thị trường.

Cần chính sách ổn định để phát triển bền vững nhiên liệu sinh học

- Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp hội viên, ông có kiến nghị gì đối với cơ quan quản lý nhà nước để bảo đảm lộ trình phối trộn được triển khai hiệu quả, bền vững?

Ông Bùi Ngọc Bảo: Khi triển khai lộ trình phối trộn ethanol theo Thông tư 50, chúng ta không gặp trở ngại lớn về công nghệ và cũng không quá lo ngại về nguồn cung. Bản chất của E10 không phải là sản phẩm mới trên thế giới và Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ nhiều quốc gia đã triển khai trong nhiều năm.

Vấn đề cốt lõi là cần xây dựng một hệ thống chính sách ổn định, dài hạn và đồng bộ.

Trước hết, chúng tôi kiến nghị sớm ban hành nghị định mới thay thế các nghị định hiện hành về kinh doanh xăng dầu. Khi cơ chế kinh doanh được đổi mới theo hướng thị trường hơn, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong xác lập nguồn cung, đàm phán hợp đồng và tính toán giá thành.

Thứ hai, cần có chính sách thuế ổn định và hợp lý. Ví dụ như thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế bảo vệ môi trường đối với E5, E10 cần được thiết kế đơn giản, rõ ràng và thuận lợi cho quá trình tính toán trong từng mẻ phối trộn.

Thứ ba, cần tháo gỡ nút thắt về thuế nhà thầu đối với hàng hóa gửi tại kho ngoại quan. Nếu vấn đề này không được xử lý, rất khó hình thành các trung tâm trung chuyển ethanol quy mô lớn tại Việt Nam.

Ngoài ra, đây là ngành đòi hỏi các hợp đồng dài hạn giữa doanh nghiệp phân phối và nhà cung cấp. Vì vậy, chính sách thuế nhập khẩu, chính sách kỹ thuật và chính sách thương mại cũng cần ổn định tương ứng để doanh nghiệp yên tâm ký kết hợp đồng dài hạn.

Cuối cùng, nếu muốn phát triển vùng nguyên liệu ethanol trong nước một cách bền vững, cần xây dựng mức độ liên kết cao hơn giữa nông dân và doanh nghiệp. Không chỉ dừng ở quan hệ mua bán, nông dân cần được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, thậm chí có thể trở thành cổ đông của nhà máy. Khi đó, chuỗi cung ứng ethanol trong nước mới thực sự bền vững.

- Xin cảm ơn ông!

Theo Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 26 triệu m³, tấn xăng dầu. Việc triển khai các loại nhiên liệu sinh học như E5, E10 hay biodiesel B5, B10 giúp thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch trong cơ cấu tiêu thụ. Nếu tỷ lệ phối trộn đạt 10%, lượng xăng dầu khoáng được thay thế sẽ rất đáng kể, qua đó góp phần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và tăng mức độ tự chủ năng lượng quốc gia.

Phương Lan