Thu hút đầu tư khu công nghiệp, khu kinh tế phải gắn với chuyển giao công nghệ

Ưu đãi đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế cần gắn với trách nhiệm chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Khắc phục những điểm nghẽn

Tại tọa đàm trực tuyến “Kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế: Nhận diện điểm nghẽn chính sách, khơi thông nguồn lực đầu tư” do Báo Kiểm toán tổ chức, ông Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ đã chia sẻ nhiều vấn đề liên quan đến thực trạng phát triển khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT).

Theo ông Nguyễn Đức Kiên, những hạn chế trong thể chế, nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hạ tầng xã hội đang ảnh hưởng đến khả năng phát huy hiệu quả của các KCN, KKT. Trong đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục thu hút đầu tư, mà phải chuyển sang nâng cao chất lượng dòng vốn, phát triển doanh nghiệp trong nước và hình thành hệ sinh thái sản xuất gắn với đặc thù từng vùng kinh tế.

Đánh giá những hạn chế trong quản lý KCN, KKT, ông Nguyễn Đức Kiên cho rằng, trước hết cần nhìn nhận những bất cập về thể chế đang ảnh hưởng đến khả năng thu hút và phát huy hiệu quả đầu tư. Theo ông, văn bản pháp quy cao nhất hiện nay đối với KCN, KKT là nghị định của Chính phủ. Điều này khiến chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý KCN, KKT còn bị hạn chế, chưa tạo được đầy đủ điều kiện để các đơn vị này chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động.

Bên cạnh thể chế, nguồn nhân lực cũng là vấn đề cần quan tâm. Việt Nam có nguồn lao động dồi dào nhưng một bộ phận chưa qua đào tạo, trong khi hoạt động đào tạo lại chưa sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc sử dụng lao động tại chỗ, ảnh hưởng đến quá trình tổ chức sản xuất và khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Những hạn chế này có thể khiến nhà đầu tư e ngại khi lựa chọn địa điểm triển khai dự án. Trong khi đó, các tỉnh, thành phố có xu hướng cạnh tranh với nhau, xây dựng những cơ chế riêng nhằm thu hút đầu tư bằng mọi giá.

Phát triển KCN, KKT cần được đặt trong tổng thể kinh tế vùng. Cả nước trước đây có 8 vùng kinh tế, nay còn 6 vùng, mỗi vùng có những đặc điểm và lợi thế riêng. Vì vậy, các KCN cần thể hiện được khả năng thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư phù hợp với định hướng phát triển của từng vùng. “Một trong những yêu cầu quan trọng là thực hiện được chủ trương “ly nông bất ly hương”, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động nhưng không buộc họ phải rời xa quê hương”, ông Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ.

Ông Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, sau một thời gian phát triển, các KCN cần chuyển từ mục tiêu huy động vốn, tạo việc làm và tăng nguồn thu địa phương sang một giai đoạn mới, trong đó trọng tâm là chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp và hình thành hệ sinh thái sản xuất. Theo ông, quá trình phát triển cần được nhìn nhận theo quy luật “lượng đổi thì chất đổi”. Khi đã đạt được những mục tiêu ban đầu về quy mô đầu tư, việc làm và nguồn thu, KCN cần tiến thêm một bước, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ mới, nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Việt Nam đã có Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và Công nghệ, nhưng theo ông Kiên, sự liên kết với Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân chưa đồng bộ. Điều này khiến chính sách chưa tạo được động lực đủ mạnh để hình thành những doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ, trở thành đối tác của doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, doanh nghiệp FDI thường đưa ra lý do doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Vì vậy, các doanh nghiệp nước ngoài tiếp tục chủ động tổ chức sản xuất, vận hành và khai thác công nghệ trong phạm vi của mình, còn mối liên kết với khu vực doanh nghiệp nội địa vẫn hạn chế.

Đến tháng 10/2026, khu vực doanh nghiệp FDI chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình thu hút đầu tư, nhưng đồng thời cho thấy hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn chưa đủ mạnh. "Nếu không khắc phục được điểm nghẽn này, đến năm 2030, quy mô sản xuất và xuất khẩu có thể tiếp tục tăng, nhưng doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu đảm nhận công đoạn gia công, lắp ráp và cung cấp lao động cho các chuỗi sản xuất do doanh nghiệp nước ngoài dẫn dắt”, ông Nguyễn Đức Kiên khẳng định.

Những kết quả kiểm toán là cơ sở nhận diện các hạn chế trong phát triển KCN, KKT.

Những kết quả kiểm toán là cơ sở nhận diện các hạn chế trong phát triển KCN, KKT.

Gắn ưu đãi đầu tư với trách nhiệm doanh nghiệp

Từ những hạn chế trong phát triển KCN, KKT, ông Nguyễn Đức Kiên cho rằng, cần hoàn thiện, hệ thống hóa các quy định, các ưu đãi và mục tiêu phát triển, tập trung vào chính sách ưu đãi và tổ chức bộ máy ban quản lý. Theo ông, ban quản lý KCN cần được trao quyền chủ động hơn, có thể coi như một ủy ban nhân dân thu nhỏ, với khả năng quyết định những vấn đề liên quan đến quy hoạch, mục tiêu phát triển và hoạt động của KCN. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nếu không được thể chế hóa lại, việc quản lý KCN, KKT sẽ gặp nhiều khó khăn.

Cùng với đó, quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Doanh nghiệp khi vào KCN và được hưởng ưu đãi cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm về công nghệ, đầu tư, giải ngân vốn theo cam kết và trách nhiệm xã hội đối với địa phương, người lao động. Theo ông Kiên, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách. Nếu vấn đề này bị bỏ qua, người lao động có thể không được bảo đảm đầy đủ quyền lợi, trong đó có việc chăm sóc sức khỏe, tiền lương khi ốm đau và điều kiện học tập của con cái.

Bên cạnh đó, việc thực hiện quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cần được đặt đúng vị trí trong quá trình phát triển KCN, KKT. Ông Kiên lấy ví dụ Quảng Ninh, địa phương cần chuyển dịch từ mô hình công nghiệp khai thác than truyền thống sang phát triển các KCN công nghệ cao, tận dụng lợi thế logistics. Chính sách ưu đãi cần hướng tới những doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới trong khai thác, chế biến than hầm lò, thay vì tiếp tục tập trung vào các nhà máy chế tạo thiết bị đào than hay cơ khí quy mô lớn như trước.

Tại Móng Cái, phát triển KKT cửa khẩu không chỉ nhằm tăng cường giao lưu kinh tế vùng biên mà còn cần khai thác tiềm năng sâu hơn vào nội địa. Theo ông, cần có chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ chi phí logistics rõ ràng đối với doanh nghiệp đưa hàng vượt sâu qua biên giới vào nội địa nhưng vẫn đặt trụ sở tại vùng biên.

Một vấn đề khác được ông Kiên đề cập là phát triển nhà ở cho người lao động và chuyên gia. Theo ông, cần phân loại rõ bất động sản công nghiệp và bất động sản dân sinh, đồng thời phát triển các phân khúc nhà ở phù hợp với nhu cầu của từng nhóm tuổi. Đối với lao động trẻ từ 20 đến 35 tuổi, nhu cầu chủ yếu là nhà ở riêng. Nhóm từ 35 đến 55 tuổi cần nhà ở đi kèm các tiện ích về y tế, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Trong khi đó, người trên 60 tuổi có nhu cầu sinh sống gần bệnh viện và không gian giao lưu văn hóa.

Ông Kiên cho rằng, mô hình gia đình ngày càng thu nhỏ cũng đặt ra yêu cầu phát triển các phân khúc bất động sản dân sinh phù hợp. Khi có đầy đủ hạ tầng, các chuyên gia mới yên tâm sinh sống và làm việc tại địa phương.

Để nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, ông Kiên cũng đề cập yêu cầu phát triển KCN, KKT theo hướng sinh thái, thông minh, chuyên ngành, gắn với Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn FDI trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Theo ông, đây là thế “kiềng ba chân” của nền kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân khi đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn cần được bình đẳng tiếp cận KCN, KKT.

Ở góc độ tổ chức thực thi, ông Kiên nhấn mạnh cần trao quyền chủ động cho địa phương để phát huy tính năng động, sáng tạo. Các sở, ngành như tài chính, thuế, nông nghiệp và môi trường cần phối hợp thường xuyên với ban quản lý KCN để giải quyết từng vấn đề phát sinh. Đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ cán bộ trong quá trình thực thi công vụ. Theo ông, nếu cán bộ lựa chọn và áp dụng quy định pháp luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, việc đánh giá không nên chỉ dựa vào số thu ngân sách trước mắt.

Một chính sách có thể chưa tạo ra nhiều nguồn thu tại thời điểm hiện tại nhưng sau đó giúp doanh nghiệp hình thành chu trình sản xuất ổn định, tạo doanh thu, việc làm, thu nhập và nguồn thu thuế thường xuyên cho Nhà nước. Ông Kiên cho rằng, nếu cán bộ thực hiện công việc với động cơ trong sáng, không vụ lợi, không gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp và không vi phạm pháp luật, cần có cơ chế ghi nhận, khuyến khích và bảo vệ trước những rủi ro pháp lý phát sinh từ việc thực thi chính sách vì lợi ích chung. Đây là điều kiện để cán bộ chủ động tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, mạnh dạn đổi mới trong thực thi công vụ và đồng hành cùng sự phát triển dài hạn của nền kinh tế.

Những kết quả kiểm toán là cơ sở nhận diện các hạn chế trong phát triển KCN, KKT, qua đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư và phát triển bền vững.

Lê Na

Có thể bạn quan tâm