Trong tiến trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác dân tộc, con người là vấn đề chiến lược, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trên tinh thần đó Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030 (Chương trình 1719) hay Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; Chương trình Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo; Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo…đã tạo bước đi mang tính đột phá, thể hiện rõ cam kết chính trị về phát triển bao trùm, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc, vùng miền, hướng tới mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số miền núi
Việt Nam có gần 13,4 triệu người dân tộc thiểu số thuộc 53 dân tộc, chiếm hơn 14% dân số cả nước, có tỷ lệ dân số không đều, sống rải khắp trên địa bàn cả nước, không có lãnh thổ, địa giới hành chính riêng, chủ yếu sống xen kẽ nhau. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.

Nhờ chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc, gia đình chị Hoàng Thị Hiền, xã Quang Bình, tỉnh Tuyên Quang được hỗ trợ nguồn vốn đầu tư trồng nấm, phát triển kinh tế và từng bước làm giàu. Ảnh: Thu Hường
Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Nhà nước luôn dành cho các dân tộc ít người các điều kiện ưu đãi, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ phát triển và từng bước thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa các cộng đồng dân tộc.
Cụ thể, theo báo cáo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi giai đoạn I từ năm 2021-2025 (Chương trình 1719), tổng mức vốn thực hiện trên 137.000 tỷ đồng. Sau gần 5 năm thực hiện, chương trình đã hỗ trợ đất ở và nhà ở cho 53.116 hộ; hỗ trợ đất sản xuất cho 13.387 hộ và nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ; đầu tư xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung; quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư cho 25.056 hộ.
Qua đánh giá, mục tiêu về tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào DTTS đạt bình quân 3,4%; thu nhập bình quân đầu người đạt 43,4 triệu đồng/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020..
Cụ thể, đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm còn 23,32% (so với tổng số hộ DTTS 108.642 hộ), tỷ lệ cận nghèo chiếm 16,98%. Hệ thống hạ tầng từng bước được hoàn thiện với 96,9% xã có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% trạm y tế đảm bảo điều kiện hoạt động... Đời sống bản sắc văn hóa các dân tộc được chú trọng gìn giữ, với 18/19 dân tộc đã được tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể.
Nhiều tỉnh miền núi như Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Tuyên Quang hay Quảng Ngãi được đánh giá có bước chuyển mạnh từ sản xuất tự cung tự cấp sang phát triển kinh tế hàng hóa, nông nghiệp đặc sản và du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Các mô hình trồng dược liệu, chăn nuôi hàng hóa, OCOP, du lịch bản địa đã giúp nâng thu nhập cho người dân.
Nhiều tổ chức quốc tế như World Bank và UNDP đánh giá Việt Nam đạt nhiều tiến bộ trong thu hẹp khoảng cách phát triển vùng dân tộc thiểu số. Các báo cáo của World Bank cho rằng Việt Nam đã mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng, thị trường và hạ tầng cho đồng bào miền núi, đặc biệt thông qua mô hình phát triển dựa vào cộng đồng.

Chị Hủng Thị Dạng, dân tộc Pà Thẻn tại thôn Thượng Bình, xã Yên Thành, Tuyên Quang livestream bán sản phẩm chè của gia đình. Ảnh: Thu Hường
Phát biểu tại Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 diễn ra vào tháng 8/2025, bà Ramla Khalidi – Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam đã đánh giá cao cam kết của Việt Nam trong cải thiện đời sống vùng dân tộc thiểu số, nhất là ở các lĩnh vực giảm nghèo, y tế, giáo dục và an sinh xã hội.
“Chương trình đã góp phần quan trọng xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; giải quyết tốt các vấn đề về nhà ở, đất ở, quy hoạch, ổn định dân cư; đặt nền móng đầu tư kết cấu hạ tầng, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi...”, bà Ramla Khalidi khẳng định.
Theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh – Đoàn Lâm Đồng: Việc xây dựng và triển khai các chính sách dân tộc trong thời gian qua luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ chiến lược, mang tính nhân văn sâu sắc. Quy trình xây dựng chính sách đã chuyển đổi mạnh mẽ từ việc hỗ trợ trực tiếp, nhỏ lẻ sang các Chương trình mục tiêu quốc gia mang tính tổng thể, điển hình là Chương trình 1719. Theo đó, công tác thực thi được phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương, trong đó chú trọng phân cấp, trao quyền cho cơ sở để đảm bảo nguồn lực đến đúng đối tượng. Đặc biệt, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được tăng cường thường xuyên, giúp kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước.
“Nhờ những nỗ lực đó, đời sống của đồng bào các dân tộc hiện nay đã có những chuyển biến rõ nét với hệ thống hạ tầng điện, đường, trường, trạm được đầu tư đồng bộ, xóa dần khoảng cách giữa các vùng miền. Các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế và tín dụng chính sách đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận tri thức, chăm sóc sức khỏe và có nguồn vốn phát triển sản xuất bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu qua các năm, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát huy, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh chia sẻ.
Ông Nguyễn Lâm Thành – nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV đánh giá, Chương trình 1719 đã giúp đời sống kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước phát triển rõ rệt. Sinh kế của người dân ngày càng đa dạng, thu nhập được nâng lên và đời sống không ngừng cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 3,4%/năm, cao hơn so với tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Các nội dung đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế địa phương đã phát huy vai trò quan trong trọng việc hỗ trợ người dân sản xuất theo định hướng của thị trường. Nhiều hạng mục công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ dân sinh trên địa bàn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào DTTS và miền núi được đầu tư xây dựng, đóng góp đáng kể vào việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục... đặc biệt là trên địa bàn các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn.
Các chính sách hỗ trợ và phát triển sinh kế giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống và phát triển kinh tế. Công tác hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm góp phần giải quyết việc làm ổn định cho một lực lượng lao động rất lớn trên địa bàn. Những thành tựu này thể hiện sự nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị và đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng chung của đất nước.
Thu hẹp khoảng cách phát triển
Đồng hành cùng quá trình phát triển của đất nước, việc thu hẹp khoảng cách vùng miền luôn là một trong những nhiệm vụ chiến lược mang ý nghĩa kinh tế, xã hội và chính trị sâu sắc. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, dành nhiều nguồn lực để ưu tiên phát triển khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo, đặc biệt là phát triển thương mại hàng hóa và dịch vụ, nhằm nâng cao đời sống người dân địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị - xã hội. Trong đó, Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo giai đoạn 2015-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 964/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2015 và tiếp nối là giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1162/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 do Bộ Công Thương triển khai cũng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập của người dân, đảm bảo an ninh quốc phòng ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với địa bàn khó khăn này.

Các hoạt động quảng bá sản phẩm nông sản đặc sản, xúc tiến thương mại tại Sơn La đã giúp sản phẩm Mận hậu có chỗ đứng trên thị trường và được đưa vào các hệ thống siêu thị, phân phối bán lẻ...Ảnh: Thu Hường
Các chương trình xúc tiến thương mại được Chính phủ, Bộ Công Thương triển khai trong thời gian qua đã trở thành "đòn bẩy" quan trọng, mở ra hướng đi mới cho hàng hóa các địa phương gặp nhiều khó khăn về địa hình, địa lý, hạ tầng giao thông. Nhiều sản phẩm vốn chỉ quen thuộc trong không gian thôn xóm nay đã có mặt tại hệ thống siêu thị lớn, trở thành món quà đặc sản được người tiêu dùng cả nước ưa chuộng. Điều này không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn khẳng định nỗ lực của Chính phủ, Bộ Công Thương trong việc đưa thương mại trở thành trụ cột phát triển bền vững cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi và hải đảo.
Việc thực hiện Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo trong những năm qua đã mang lại nhiều kết quả khả quan, mức tăng trưởng hàng năm về giá trị của tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ và đã tạo ra những thay đổi rõ nét. Với sự đồng hành của các hệ thống phân phối lớn như Saigon Co.op, Central Retail, Winmart, AEON, Mega Market..., sản phẩm đặc sản vùng cao, vùng hải đảo đã tiếp cận người tiêu dùng cả nước.
Thông qua các tuần lễ nông sản, tuần lễ giới thiệu hàng nông, thuỷ sản tại các hệ thống siêu thị hay các chương trình "Tự hào nông sản Việt" trên các sàn thương mại điện tử đã giúp tiêu thụ mạnh các mặt hàng từ mật ong bạc hà Tuyên Quang, miến dong Bắc Kạn, mận hậu Sơn La, lê Tai Nung Cao Bằng, quýt Bắc Sơn Lạng Sơn, chè Shan tuyết Lào Cai, gạo nếp Tú Lệ, nông sản Thái Nguyên, hành tỏi Lý Sơn…, giúp hàng nông sản vượt qua rào cản địa lý đến với người tiêu dùng tại tại Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh… Từ đó, nâng cao giá trị và vị thế của đặc sản vùng cao, vùng hải đảo.

Các sản phẩm nông sản đặc sản của Cao Phong ( Phú Thọ) được giới thiệu tại các hội chợ OCOP đã giúp mở rộng thị trường tiêu thụ cho người nông dân. Ảnh: Thu Hường
Đặc biệt, Bộ Công Thương và các địa phương đã có các hoạt động hỗ trợ, xúc tiến thương mại, tạo ra một luồng sinh khí mới, đưa đặc sản miền núi, vùng sâu vùng xa và hải đảo vươn ra thị trường lớn. Trong đó, chú trọng vào các hoạt động kết nối cung cầu, thúc đẩy tiêu thụ hàng nông sản, các sản phẩm đặc trưng, có thế mạnh của địa phương…
Hay Chương trình Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo của Việt Nam không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn đóng góp vào phát triển bền vững cho khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo.
Ngày 4/9/2025 Trạm biến áp 110kV Côn Đảo đã đóng điện thành công chính thức ghi dấu mốc hoàn thành dự án đưa điện lưới quốc gia đến với Đặc khu Côn Đảo. Ảnh: Thu Hường
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2081/QĐ-TTg ngày 8/11/2013 phê duyệt Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013-2020, sau đó là Quyết định số 1740/QĐ-TTg năm 2018 phê duyệt Chương trình mục tiêu cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2016-2020.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Công Thương, việc phát triển hệ thống lưới điện nông thôn đã làm "thay da đổi thịt" bộ mặt nông thôn Việt Nam. Điện lưới nông thôn đã xóa nhòa khoảng cách địa lý, người dân vùng sâu, vùng xa, miền núi hải đảo đã tiếp cận với những thông tin, tiếp cận được với khoa học kỹ thuật để phát triển kinh tế địa phương. Đến nay, tỷ lệ hộ dân tiếp cận điện năng đạt mức cao, khoảng 99,74% (vùng nông thôn 99,6%),
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh khẳng định: việc ưu tiên tập trung nguồn lực cho các vùng đặc biệt khó khăn là minh chứng sống động nhất cho nguyên tắc bình đẳng thực chất, bởi bình đẳng không chỉ dừng lại ở quyền lợi trên văn bản mà phải được cụ thể hóa bằng việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền.




