Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Chủ nhật 20/09/2020 18:22

Thị trường chuỗi cung ứng lạnh: Khoảng trống tỷ đô

14:00 | 28/08/2020
Thị trường chuỗi cung ứng lạnh Việt Nam có quy mô lên đến gần 10 tỷ USD. Tuy nhiên, các doanh nghiệp (DN) trong nước lại chưa thực sự chú trọng tham gia vào thị trường giàu tiềm năng này.

Chưa đáp ứng nhu cầu

Thị trường cung ứng lạnh tại Việt Nam được đánh giá chưa đáp ứng nhu cầu của DN xuất khẩu và bán lẻ, thực phẩm nội địa. Theo khảo sát từ CEL Consulting, chỉ 8,2% nhà sản xuất cho thị trường nội địa áp dụng chuỗi lạnh, thấp hơn rất nhiều so với con số 66,7% của nhà xuất khẩu. Vì thế, tình trạng hư hỏng trong sản phẩm nông sản của Việt Nam khá cao, chiếm tới 25,4%. Bản thân nhà sản xuất, bán lẻ cũng bị thiệt hại, giảm sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh vì thiếu bảo quản lạnh theo đúng chuẩn mực.

thi truong chuoi cung ung lanh khoang trong ty do
Đầu tư cho chuỗi cung ứng lạnh đòi hỏi chi phí lớn

Từ đầu năm nay, dịch bệnh xảy ra đã khiến nhiều DN, nhất là DN cá tra, xuất khẩu không thuận lợi, hàng tồn kho tăng. Ông Trương Đình Hòe - Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy Việt Nam (VASEP) - cho biết: Để giải quyết lượng hàng tồn kho tăng cao, DN thủy sản đã chọn thuê kho lạnh trữ, tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu kho lạnh trầm trọng. “Hệ thống kho lạnh là một mắt xích cốt lõi đối với cả chuỗi sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Do đó, chúng tôi đã đề nghị Thủ tướng và Ngân hàng Nhà nước có chính sách giảm lãi suất với các khoản cho vay dài hạn để đầu tư xây dựng kho lạnh” - ông Hòe nói.

Theo báo cáo được đưa ra bởi Euromonitor vào năm ngoái, độ lớn của riêng thị trường thực phẩm cần vận chuyển lạnh trong ngành bán lẻ Việt Nam, không tính mảng thủy sản, ước đạt 1,2 tỷ USD. Nếu tính luôn các loại dược phẩm chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào chuỗi cung ứng lạnh, quy mô này có thể lên đến gần 10 tỷ USD vào năm 2020. Điều này cho thấy, nhu cầu về chuỗi cung ứng lạnh hiện tại rất lớn..

Bắt nhịp thị trường

Trước nhu cầu lớn về chuỗi cung ứng lạnh, các DN tham gia cung cấp dịch vụ ở mảng này đã tăng cường mở rộng thêm kho cũng như ứng dụng tự động hóa vào hoạt động ở các trung tâm phân phối (DC), nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhân lực, ngăn chặn sự tác động của dịch bệnh cũng như đón đầu cơ hội phát triển của thị trường.

Đơn cử, Công ty Cổ phần Tân Bảo An logistics ngoài đội xe tải lạnh hiện hữu hơn 80 xe, DN này đang có kế hoạch tìm kiếm nhà đầu tư, xây kho lạnh, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hay, ABA Cooltrans cùng với phát triển xe lạnh, sẽ mở một DC, dự kiến khai trương vào đầu tháng 9 tới. Đây là DC thứ 3 của ABA, sau 2 DC ở TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ông Lương Quang Thi - CEO ABA Cooltrans - cho hay: Bên cạnh các DC, công ty còn phát triển mạnh đội xe lạnh bởi theo báo cáo Bộ Công Thương, xe tải động lạnh hiện đại, có cách nhiệt đúng chuẩn ở Việt Nam mới chiếm 0,3% tỷ lệ hàng hóa vận chuyển bằng xe. Trong khi đó, ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, tỷ lệ này là 1% và 2,6% ở Anh, Đức 3%.Thực tế cho thấy, tốc độ phát triển và đô thị hóa cũng như các hệ thống phân phối hiện đại là tiền đề cho phát triển các chuỗi giá trị, trong đó, có đầu tư cung ứng lạnh trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên, việc đầu tư cho chuỗi cung ứng lạnh lại có nhiều rào cản như chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi bên tham gia phải có chuyên môn về bảo quản nhiệt độ. Ngoài ra, để tạo lợi thế cạnh tranh, cung cấp giải pháp trọn vẹn, khép kín, các công ty phải đầu tư mạnh về kho lạnh, xe lạnh và những hệ thống thiết bị khác.

Ông Lương Quang Thi - CEO ABA Cooltrans:

Sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng lạnh vẫn chưa thật sự chặt chẽ. Vì thế, cần có sự “chung tay” của cả chuỗi cung ứng lạnh, từ xử lý làm mát tạm thời sau thu hoạch, đến lưu trữ trong kho lạnh, rồi vận chuyển và trưng bày tại cửa hàng.

Mai Ca