Ông Tống Xuân Chinh: Tháo gỡ điểm nghẽn để ngành sữa bứt phá

Ngành sữa cần khơi thông nguồn lực, phát triển vùng nguyên liệu, minh bạch thị trường và cải thiện môi trường đầu tư để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đến năm 2030.

Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng, từ nâng cao tỷ lệ sữa tươi nguyên liệu trong nước, tăng sức cạnh tranh đến tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, ngành sữa cần tháo gỡ những điểm nghẽn về nguồn lực, vùng nguyên liệu, cơ chế quản lý thị trường và môi trường đầu tư. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc chia sẻ với ông Tống Xuân Chinh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam.

Ông Tống Xuân Chinh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam.

Ông Tống Xuân Chinh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam.

Khơi thông nguồn lực, phát triển vùng nguyên liệu

- Chiến lược ngành sữa muốn đi vào thực tế cần có nguồn lực tài chính và nguồn lực con người tương xứng đi kèm từ phía Nhà nước. Theo ông, hiện đâu là nguồn lực còn thiếu hoặc điểm nghẽn lớn nhất cần được tháo gỡ ngay để thực hiện các mục tiêu đến năm 2030?

Ông Tống Xuân Chinh: Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được ban hành tại Quyết định số 2188/QĐ-BCT ngày 08/9/2026 của Bộ trưởng Bộ Công Thương, để triển khai Chiến lược được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 23/02/2026. Vì vậy, vấn đề hiện nay là bảo đảm nguồn lực để các nhiệm vụ đã xác định được thực hiện đúng tiến độ và có kết quả.

Theo Hiệp hội, cần nhìn nguồn lực thành hai nhóm. Nguồn lực công của Nhà nước nên ưu tiên cho những nhiệm vụ phục vụ chung cho toàn ngành như nghiên cứu ứng dụng, tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, giám sát thị trường, dữ liệu ngành, đào tạo kỹ thuật và nâng năng lực đội ngũ thực thi chính sách. Đặc biệt, năng lực kiểm nghiệm và phân tích cần được tăng cường để kiểm soát chất lượng, minh bạch thị trường và tạo cạnh tranh công bằng.

Nguồn lực từ khu vực tư nhân cần giữ vai trò chủ yếu trong đầu tư trang trại, vùng nguyên liệu, nhà máy, đổi mới công nghệ, phát triển thị trường và đào tạo nhân lực doanh nghiệp. Nhà nước cần tạo môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và tháo gỡ những điểm nghẽn cụ thể về đất đai, vốn, thủ tục và hạ tầng. Điểm quan trọng nhất là nguồn lực công và tư phải bổ trợ nhau, không thay thế nhau.

- Chiến lược đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sữa tươi nguyên liệu sản xuất trong nước lên khoảng 60% vào năm 2030. Theo đánh giá của Hiệp hội, mục tiêu này có khả thi không và cần những chính sách cụ thể nào để đạt được?

Ông Tống Xuân Chinh: Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2,6 tỷ lít/năm và đáp ứng khoảng 60-65% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. Theo Hiệp hội, đây là mục tiêu có cơ sở để phấn đấu, nhưng mức độ khả thi cần được đánh giá hằng năm trên cơ sở sản lượng thực tế, quy mô và năng suất đàn bò, nhu cầu nguyên liệu và tiến độ các dự án chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa và khả năng thương mai trong nước và xuất khẩu.

Trong điều kiện Việt Nam, chính sách cần tập trung vào hiệu quả: Phát triển vùng chăn nuôi phù hợp; chủ động vùng trồng cây thức ăn, tận dụng và chế biến phụ phẩm nông nghiệp; nâng chất lượng giống, thú y, năng suất và hiệu quả của đàn bò; hỗ trợ tín dụng dài hạn, liên kết thu mua, bảo quản lạnh và xử lý môi trường. Đối với nông hộ và hợp tác xã, liên kết ổn định với doanh nghiệp chế biến là đặc biệt quan trọng.

Đồng thời, phát triển sản xuất phải gắn với phát triển thị trường. Hiệp hội đề nghị Nhà nước tiếp tục có chính sách mở rộng triển khai Chương trình sữa học đường hoặc bữa ăn học đường có sữa hoặc sản phẩm sữa; tại những nơi có điều kiện phù hợp, có thể triển khai chương trình trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trong đó có Thái Lan và Trung Quốc, nhưng phải phù hợp với điều kiện Việt Nam. Mục tiêu trước hết là dinh dưỡng và an toàn cho học sinh; đồng thời, nếu được thiết kế minh bạch, bảo đảm chất lượng, an toàn và truy xuất nguồn gốc, các chương trình này có thể góp phần mở rộng đầu ra cho sữa tươi trong nước và vùng nguyên liệu.

Minh bạch thị trường, cải thiện môi trường đầu tư

- Ông đánh giá thế nào về tính minh bạch của thị trường sữa hiện nay? Theo ông, cần tập trung quản lý, kiểm soát những khâu nào để bảo đảm chất lượng sản phẩm và quyền lợi người tiêu dùng?

Ông Tống Xuân Chinh: Theo Hiệp hội, cần kiểm soát đồng bộ từ an toàn thực phẩm, chất lượng và thành phần thực tế đến công bố sản phẩm, nhãn hàng hóa và quảng cáo; đặc biệt là thông tin về nguyên liệu, giá trị dinh dưỡng và công dụng, kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị của sữa, sản phẩm sữa. Việc quản lý cũng phải bao quát hoạt động kinh doanh và quảng cáo trên môi trường số.

Đối với sữa lỏng, thông tin về bản chất nguyên liệu và sản phẩm cần rõ ràng, chính xác, giúp người tiêu dùng nhận biết được giữa sản phẩm sử dụng sữa tươi nguyên liệu và sản phẩm sử dụng sữa hoàn nguyên. Quản lý hiệu quả cần kết hợp hồ sơ truy xuất nguyên liệu với năng lực kiểm nghiệm, phân tích phù hợp. Doanh nghiệp có trách nhiệm bảo đảm an toàn, chất lượng, công bố và ghi nhãn đúng quy định.

Hiệp hội ủng hộ kiểm tra dựa trên rủi ro, có trọng tâm, xử lý nghiêm hành vi vi phạm đã được xác minh, đồng thời tránh kiểm tra trùng lặp và phát sinh thủ tục không cần thiết đối với doanh nghiệp tuân thủ. Minh bạch thị trường vừa bảo vệ người tiêu dùng, vừa tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

- Trước xu hướng doanh nghiệp sữa Việt Nam mở rộng đầu tư ra nước ngoài, theo ông, chính sách trong nước cần có những điều chỉnh gì để thu hút đầu tư vào chăn nuôi, phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến sữa?

Ông Tống Xuân Chinh: Không nên mặc nhiên coi đầu tư ra nước ngoài là dấu hiệu doanh nghiệp không còn ưu tiên thị trường trong nước. Đầu tư ở đâu mà pháp luật cho phép là quyền của doanh nghiệp. Chiến lược đã định hướng ngành sữa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu. Đầu tư quốc tế có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn nguyên liệu, tiếp cận công nghệ, mở rộng thị trường và đa dạng hóa chuỗi cung ứng; động cơ cụ thể phải được xem xét theo từng dự án.

Tuy nhiên, từ góc độ Hiệp hội, xu hướng này cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cải thiện sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước. Những yếu tố cần tiếp tục rà soát gồm khả năng tiếp cận quỹ đất phù hợp, vùng trồng cây thức ăn, nguồn vốn dài hạn, chi phí sản xuất và thời gian thực hiện thủ tục đầu tư. Những vướng mắc có căn cứ cần được rà soát và tháo gỡ.

Đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài không loại trừ nhau. Điều quan trọng là tạo điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư hiệu quả, tuân thủ pháp luật và đồng thời tăng năng lực của ngành sữa Việt Nam.

Nhà máy chế biến sữa tươi sạch TH true MILK.

Nhà máy chế biến sữa tươi sạch TH true MILK.

- Theo ông, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách về đất đai, phát triển vùng nguyên liệu, thuế và môi trường đầu tư như thế nào để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sữa mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước?

Ông Tống Xuân Chinh: Theo Hiệp hội sữa Việt Nam, cần ưu tiên tính ổn định, minh bạch, nhất quán và khả năng dự báo của chính sách. Về đất đai, cần công khai thông tin quy hoạch và quỹ đất phù hợp, hướng dẫn rõ thủ tục tiếp cận và sử dụng đất, đồng thời gắn phát triển trang trại với vùng trồng cây thức ăn, cơ sở chế biến và yêu cầu bảo vệ môi trường.

Về vùng nguyên liệu, cần thúc đẩy liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp với nông dân, hợp tác xã; phát triển thu gom, chuỗi lạnh, dịch vụ thú y và tín dụng phù hợp với chu kỳ đầu tư dài của chăn nuôi bò sữa. Về thuế, cần hướng dẫn và áp dụng thống nhất các ưu đãi hiện hành đối với dự án đủ điều kiện; nếu đề xuất chính sách ưu đãi mới thì cần đánh giá tác động và thực hiện đúng thẩm quyền.

Cuối cùng, cần bảo đảm xử lý hồ sơ đúng thời hạn, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, tăng phối hợp giữa các cơ quan, hạn chế kiểm tra chồng chéo và bảo đảm cách hiểu, cách áp dụng chính sách thống nhất giữa trung ương và địa phương. Khi môi trường đầu tư có tính dự báo và chi phí tuân thủ hợp lý, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, ngành sữa Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, phát triển vùng nguyên liệu, minh bạch thị trường và tháo gỡ các rào cản đầu tư. Sự phối hợp hiệu quả giữa Nhà nước và doanh nghiệp sẽ tạo nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy ngành sữa phát triển bền vững.

Nguyễn Hương

Có thể bạn quan tâm